Chính trị Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt

Chính trị Việt Nam đi theo nguyên mẫu nhà nước xã hội chủ nghĩa, đơn đảng. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo cao nhất trong hệ thống chính trị tại Việt Nam. Hiến pháp mới được thông qua vào tháng 11 năm 2013, tái khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chính trị và xã hội, phác thảo việc tái tổ chức chính phủ và tăng cường cải cách thị trường trong nền kinh tế. Dù Việt Nam là một quốc gia đơn đảng, việc đi theo đường lối tư tưởng chính thống của Đảng đã giảm bớt phần quan trọng và ưu tiên với mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh tổ quốc.[1][2][3]

Cách tổ chức chính trị ở Việt Nam được sắp xếp theo trục dọc với Đảng Cộng sản giữ địa vị trên hết, không như mô hình tam quyền phân lập như các tổ chức chính phủ dân chủ nghị viện khác. Mô hình khác biệt này được Ủy ban Pháp luật Quốc hội Việt Nam xác nhận.[4] Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng trong Hội nghị Trung ương lần thứ năm của Đảng cộng sản Việt Nam năm 2012 tại Hà Nội đã thẳng thừng bác bỏ nguyên tắc tam quyền phân lập vốn là nền tảng chính trị của hầu hết các quốc gia trên thế giới, ông cho rằng “quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.[5]

Cựu Bộ trưởng Bộ Tư pháp Việt Nam, Nguyễn Đình Lộc (tại nhiệm từ năm 1992 đến 2002) thì cho là Việt Nam tuân theo mô hình “quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có phân công, phối hợp giữa các quyền lực đó” với một đảng lãnh đạo và cầm quyền.[6]

Quyền lực quan trọng nhất bên trong Chính phủ Việt Nam – ngoài Đảng Cộng sản – là các cơ quan hành pháp do hiến pháp năm 2013 quy định: các chức vụ chủ tịch nước và thủ tướng. Chủ tịch nước Việt Nam hoạt động với tư cách nguyên thủ quốc gia, Thống lĩnh các lực lượng vũ trang và Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh kiêm Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang. Thủ tướng Việt Nam lãnh đạo một chính phủ hiện gồm 4 phó thủ tướng và 22 bộ trưởng và các ủy ban, tất cả các chức vụ và ủy ban trên đều được Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước bổ nhiệm.

Dưới đây là Sơ đồ tổ chức triển khai mạng lưới hệ thống chính trị của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam :

Vietnam political system.png

Phân bố quyền lực[sửa|sửa mã nguồn]

Hiến pháp 2013 tái chứng minh và khẳng định vai trò ưu tiên của Đảng Cộng sản, tuy nhiên, cũng theo bản hiến pháp đó thì Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là tổ chức triển khai duy nhất nắm quyền lập pháp. Cơ quan này có nghĩa vụ và trách nhiệm to lớn trong việc giám sát mọi tính năng của nhà nước .

Tổng Bí thư là chức danh dành cho người lãnh đạo cao nhất trong hệ thống chính trị tại [[Việt Nam|Việt Nam[cần dẫn nguồn]]], kiêm nhiệm chức danh Bí thư Quân ủy Trung ương là người lãnh đạo tối cao của [[Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân đội Nhân dân Việt Nam[cần dẫn nguồn]]]. Chủ tịch nước với vai trò là Nguyên thủ quốc gia, là người đại diện về mặt Nhà nước, là nhân vật quyền lực số 2 trong hệ thống chính trị[cần dẫn nguồn]. Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu cơ quan hành pháp, là nhân vật quyền lực số 3[cần dẫn nguồn]. Chủ tịch Quốc hội đứng đầu Quốc hội, tức cơ quan lập pháp, là nhân vật quyền lực số 4[cần dẫn nguồn].

Từng được coi là một cơ quan chỉ để phê chuẩn[cần dẫn nguồn], Quốc hội đã vươn ra tiếp nhận vai trò quan trọng hơn trong việc thực thi quyền lực thông qua trách nhiệm lập pháp, nhất trong những năm 2000 trở đi[cần dẫn nguồn]. Tuy nhiên, Quốc hội vẫn là đối tượng chịu sự lãnh đạo của Đảng. Khoảng gần 90% đại biểu Quốc hội là Đảng viên. Số còn lại dù không phải là Đảng viên, nhưng phải được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua mới có thể tranh cử vào Quốc hội.

Quốc hội họp 2 lần 1 năm, mỗi lần lê dài từ 7 – 10 tuần ; đại biểu Quốc hội có nhiệm kỳ 5 năm .

Việt Nam có một cơ quan tư pháp riêng biệt, nhưng nhánh này có vai trò khá mờ nhạt[cần dẫn nguồn]. Nói chung, số lượng luật sư còn ít và các thủ tục tòa án còn nhiều vấn đề bất cập[cần dẫn nguồn]. Tuy nhiên từ năm 2016, hệ thống tư pháp ngày càng được cải thiện rõ rệt và có vai trò rất quan trọng trong phòng chống tham nhũng ở Việt Nam[cần dẫn nguồn].

Đảng Cộng sản[sửa|sửa mã nguồn]

Cơ cấu tổ chức hệ thống Đảng Cộng sản Việt Nam.png

Bộ Chính trị với 18 thành viên lúc bấy giờ, được bầu ra vào tháng 1 năm 2021 và do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đứng đầu, quyết định hành động chủ trương của Đảng ; Ban Bí thư gồm 14 người giám sát việc thi hành chủ trương hàng ngày. Dù đã có một số ít nỗ lực nhằm mục đích giảm sự chồng chéo và hạn chế sự can thiệp lẫn nhau giữa những vị trí của Đảng và chính quyền sở tại, cách quản trị này hiện vẫn đang được vận dụng và lan rộng ra. Các thành viên chính của Bộ Chính trị như Nguyễn Xuân Phúc, Phạm Minh Chính, Vương Đình Huệ hiện cũng giữ những vị trí cao trong nhà nước và Quốc hội. Ngoài ra, Đảng ủy Quân sự Trung ương của Đảng, 1 thành viên từ Bộ Chính trị và những ủy viên Trung ương Đảng trong quân đội, quyết định hành động chủ trương quốc phòng .Đại hội Đại biểu toàn nước Đảng Cộng sản Việt Nam triển khai 5 năm / lần để đưa ra phương hướng chỉ huy của Đảng và nhà nước. Đại hội gần nhất tính đến lúc bấy giờ ( 2021 ) là Đại hội Đại biểu toàn nước Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII diễn ra từ ngày 25 tháng 1 đến ngày 1 tháng 2 năm 2021 tại TP.HN với sự tham gia của 1587 đại biểu .Ban Chấp hành Trung ương Đảng với 180 Ủy viên chính thức, 20 Ủy viên dự khuyết, do Đại hội Đại biểu toàn nước của đảng bầu ra, họp ( thường kỳ ) 2 lần / năm .Năm 2021, Đại hội Đảng nhóm họp 1587 đảng viên từ những tỉnh thành. Danh sách ứng viên được Trung ương Đảng Cộng sản soạn ra và đại hội sẽ bỏ phiếu chọn 180 người ( 2021 ) vào Trung ương và 18 người vào Bộ Chính trị, đứng đầu là Tổng Bí thư. Đây là những nhân vật quyền lực nhất trong đảng. [ 7 ]
Đứng đầu Nhà nước là quản trị nước Việt Nam do Quốc hội bầu ra trong số những đại biểu Quốc hội với nhiệm kỳ 5 năm .

Nhà nước Việt Nam bao gồm 4 cơ quan là:[cần kiểm chứng]

Cơ cấu tổ chức Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.png

Quốc hội Việt Nam theo quy mô đơn viện. Đại biểu Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm .Đứng đầu Quốc hội là quản trị Quốc hội Việt Nam do những đại biểu bầu ra .

Với Việt Nam là một quốc gia độc đảng, điều này có nghĩa là chỉ có một đảng chính trị duy nhất theo luật pháp quy định có quyền nắm quyền cai trị. Chiếu theo Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 thì đảng đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên nhiều người Việt Nam trong và ngoài nước, nhất là những người bất đồng chính kiến, cho rằng không có một điều luật nào trong các văn bản hiện hành cấm các chính đảng khác thành lập và hoạt động tại Việt Nam[cần định rõ]. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một tổ chức chính trị ngoại vi của Đảng Cộng sản Việt Nam[cần kiểm chứng] đứng làm trung gian để thông qua và thanh lọc chọn ra danh sách những người có quyền ứng cử. Trong số 500 đại biểu Quốc hội thì chỉ có khoảng 10% đại biểu không phải là Đảng viên.

Cơ cấu tổ chức chính phủ Việt Nam.png

nhà nước là cơ quan chấp hành của Quốc hội Việt Nam và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất – thường trực quản trị nước. nhà nước chịu sự giám sát của Quốc hội và quản trị nước. nhà nước phải chấp hành :1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội2. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội3. Lệnh, quyết định hành động của quản trị nướcnhà nước Việt Nam được xây dựng trong kỳ họp thứ nhất của Quốc hội mỗi khóa và có nhiệm kỳ là 5 năm .

Đứng đầu Chính phủ Việt Nam là Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng do Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội và được Quốc hội phê chuẩn; các Phó thủ tướng do Thủ tướng chỉ định và trình cho Quốc hội phê chuẩn. Các thành viên Chính phủ do Chủ tịch nước bổ nhiệm theo đề xuất của Thủ tướng và được Quốc hội phê chuẩn.

Cơ cấu tổ chức tòa án nhân dân tối cao.png

Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam là cơ quan xét xử cao nhất của nhà nước – trực thuộc Chủ tịch nước[cần kiểm chứng]. Tòa án trên nguyên tắc là cơ quan xét xử độc lập với Chính phủ và Quốc hội. Tuy nhiên, Hiến pháp Việt Nam không chấp nhận quy chế tam quyền phân lập, tức là không tách riêng ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp ra, và không cho phép ba nhánh khống chế lẫn nhau[cần kiểm chứng].

Đứng đầu Tòa án tối cao là Chánh án tối cao, do Chủ tịch nước chỉ định[cần kiểm chứng] và Quốc hội phê chuẩn.

Cơ cấu tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam.png

Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan kiểm sát và công tố nhà nước cao nhất[cần dẫn nguồn]- trực thuộc Chủ tịch nước[cần kiểm chứng].

Cán bộ đứng đầu Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do quản trị nước chỉ định .

Hiện nay, cả ba nhánh này đều phải phối hợp trong công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật dưới sự lãnh đạo thống nhất và toàn bộ của Chủ tịch nước. Do vậy, tính độc lập của ngành tòa án còn khá nhiều hạn chế. Tòa án thường phải nghe theo các cơ quan điều tra (Bộ Công an)[cần dẫn nguồn] và cơ quan tố tụng (Viện kiểm sát nhân dân tối cao – trực thuộc Chủ tịch nước[cần kiểm chứng]).

Mặt trận Tổ quốc[sửa|sửa mã nguồn]

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Việt Nam, là tổ chức liên minh và liên hiệp các tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo, và các đoàn thể thanh thiếu niên tại Việt Nam. MTTQVN dưới sự quản lý của Chủ tịch nước[cần dẫn nguồn].

Trong những cuộc bầu cử QH tại Việt Nam, những ứng viên đều phải được Mặt trận Tổ quốc phê chuẩn để đưa vào list ứng viên. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc còn đảm nhiệm việc giám sát cuộc bầu cử .

Đứng đầu MTTQVN là Chủ tịch Mặt trận[cần dẫn nguồn]do Ủy ban Trung ương MTTQVN chọn ra với nhiệm kỳ 5 năm.

Các đảng chính trị và những cuộc bầu cử[sửa|sửa mã nguồn]

Không có những đảng chính trị trái chiều hợp pháp ở Việt Nam, dù một số ít nhóm trái chiều có sống sót và hoạt động giải trí ở quốc tế, bên trong những hội đồng người Việt tại những nước như Pháp và Hoa Kỳ. Tại Việt Nam, sau năm 2006, có 1 số ít đảng trái chiều hoạt động giải trí công khai minh bạch, dù không được Nhà nước Việt Nam gật đầu và bị đặt ngoài vòng pháp lý. Những nhóm điển hình nổi bật gồm có Đảng Việt Tân, Đảng Vì dân, Đảng Thăng tiến Việt Nam, Đảng Dân chủ, Đảng Nhân dân Hành Động và nhà nước Việt Nam tự do. nhà nước Việt Nam tự do đã công bố chịu nghĩa vụ và trách nhiệm về một số ít hành vi khủng bố bên trong Việt Nam .Mặc dù có những quan điểm muốn lập ra những chính đảng khác hoạt động giải trí trong nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 10 tháng 9 năm 2013 đã chứng minh và khẳng định lập trường không đồng ý một số ít điểm cơ bản, trong đó có việc không gật đầu ” hình thành tổ chức triển khai chính trị trái chiều “. [ 8 ]Các đảng chính trị cũ gồm Việt Nam Quốc dân Đảng, Đảng Cần lao, và Việt Nam Duy tân Hội ở thời thuộc địa .Ngoài ra còn có một số ít nhóm tự nhận đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam mà phía chính quyền sở tại cho rằng do một số ít thế lực thù địch, phản động, phản bội Tổ quốc lập ra, mà không thường trực Mặt trận Tổ quốc, như Khối 8406, Liên minh Dân chủ, Nhân quyền Việt Nam, Câu lạc bộ Nhà báo Tự do .

Các khu vực hành chính[sửa|sửa mã nguồn]

Việt Nam được chia thành 58 tỉnh : An Giang, Bắc Giang, Bắc Kạn, Bạc Liêu, Thành Phố Bắc Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bến Tre, Tỉnh Bình Định, Tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cao Bằng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Điện Biên, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Giang, Thành Phố Hải Dương, Hà Nam, TP Hà Tĩnh, Hoà Bình, Hậu Giang, Hưng Yên, Khánh Hòa, Kiên Giang, Kon Tum, Lai Châu, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Lào Cai, Long An, Tỉnh Nam Định, Nghệ An, Tỉnh Ninh Bình, Ninh Thuận, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Sơn La, Tây Ninh, Tỉnh Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Thừa Thiên-Huế, Tiền Giang, Trà Vinh, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc, Yên Bái .Và 5 thành phố thường trực TW ( cấp Trung ương ) : Cần Thơ, TP. Đà Nẵng, Hải Phòng Đất Cảng, TP. Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh .

Các tổ chức triển khai quốc tế có tham gia[sửa|sửa mã nguồn]

Việt Nam là thành viên của Liên Hiệp Quốc, Cộng đồng Pháp ngữ, ASEAN và APEC. Năm 2005, Việt Nam tham gia mở bán khai trương Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, với mục tiêu để sửa chữa thay thế ASEAN trong tương lai. Việt Nam được phép gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO ) vào ngày 7 tháng 11 năm 2006 .Ngoài ra Việt Nam còn tham gia ACCT, AsDB, ESCAP, FAO, G77, IAEA, IBRD, ICAO, ICRM, IDA, IFAD, IFC, IFRCS, ILO, IMF, IMO, Inmarsat, Intelsat, Interpol, IOC, IOM ( quan sát viên ), ISO, ITU, NAM, OPCW, UN, UNCTAD, UNESCO, UNIDO, UPU, WCL, WCO, WFTU, WHO, WIPO, WMO, WTO .

Các quan điểm nhìn nhận về mạng lưới hệ thống chính trị Việt Nam[sửa|sửa mã nguồn]

Hai mạng lưới hệ thống Đảng và Nhà nước song hành nhưng Đảng là chỉ huy[sửa|sửa mã nguồn]

Nguyên quản trị Quốc hội, Nguyễn Văn An [ 9 ] nhận xét rằng : ” Từ chỗ nhìn nhận Cách mạng dân tộc bản địa dân chủ đã triển khai xong, tất cả chúng ta phải chuyển ngay sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo luận thuyết cách mạng không ngừng. Luận thuyết cách mạng không ngừng là đúng, còn cái sai là ở chỗ tất cả chúng ta nhìn nhận cách mạng dân tộc bản địa dân chủ đã hoàn thành xong tới mức phải chuyển ngay sang cách mạng xã hội chủ nghĩa “. Ngoài ra, ông còn cho rằng ” Với thể chế như lúc bấy giờ ở Việt Nam thì mọi thành công xuất sắc hay thất bại đều bắt nguồn từ sự chỉ huy của Đảng. ” Cũng theo ông An, mặc dầu ” Hiến pháp và Pháp luật đã ghi rất rõ : Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp lý là tối thượng. Song trong thực tiễn thì không ít trường hợp thông tư, nghị quyết của Đảng mới là tối thượng. Thực chất tất cả chúng ta có hai mạng lưới hệ thống quyền lực song song, đó là mạng lưới hệ thống của Đảng và mạng lưới hệ thống Nhà nước đi kèm theo là hai mạng lưới hệ thống tòa nhà của hai cơ quan đảng và nhà nước cồng kềnh chưa từng có … Quốc hội là nhánh lập pháp có quyền lực cao nhất, tuy nhiên cũng còn nhiều hình thức, thực ra là Trung ương, Bộ Chính trị quyết … nhà nước là nhánh hành pháp tuy nhiên cũng rất yếu, hầu hết là chấp hành thông tư nghị quyết của Đảng ” .Từ năm năm nay, Việt Nam mở màn thực thi cải cách mạng lưới hệ thống bằng cách hợp nhất một số ít cơ quan Đảng và nhà nước tại địa phương ( ví dụ như Ban dân vận hợp nhất với sở tiếp thị quảng cáo, hợp nhất chức vụ quản trị xã và bí thư đảng ủy xã ) để tinh giản biên chế, hạn chế sự cồng kềnh của cỗ máy chính quyền sở tại, tránh chồng chéo về tính năng giữa những đơn vị chức năng .

Không theo tam quyền phân lập[sửa|sửa mã nguồn]

Quyền lực nhà nước ở Việt Nam được phân công ra làm ba nhánh song lại thống nhất ở sự chỉ đạo của Đảng… cần phải được khắc phục theo quy luật thống nhất theo Hiến pháp và Pháp luật, tức là thống nhất ở nơi dân. Nếu hiểu ba nhánh quyền lực nhà nước đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật là đúng, còn nếu hiểu thống nhất trực tiếp ở ban lãnh đạo hoặc cá nhân lãnh đạo cụ thể nào đó thì lại là sai… Mọi chủ trương chính sách của đảng phải được cụ thể hoá bằng Hiến pháp và Pháp luật. Chấp hành Hiến pháp và Pháp luật tức là chấp hành sự lãnh đạo của Đảng. Xã hội sẽ được nhà nước quản trị bằng pháp luật, chứ không quản trị bằng chỉ thị, nghị quyết trực tiếp của đảng. Theo ông Đinh Thế Huynh, Thường trực Ban bí thư: “Việt Nam chúng tôi không có nhu cầu đa nguyên đa đảng, và dứt khoát không đa nguyên đa đảng. Điều đơn giản là Việt Nam đã có lúc đa đảng; tức là năm, 1946 khi chúng tôi Tổng tuyển cử lần đầu tiên thì cũng đã có mấy đảng tham gia. Nhưng khi thực dân Pháp quay lại xâm lược đất nước chúng tôi thì chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam kháng chiến để bảo vệ tổ quốc. Và bây giờ thì Đảng Cộng sản Việt Nam đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.[10]

Phe cánh, nghĩa vụ và trách nhiệm tập thể[sửa|sửa mã nguồn]

Chính quyền Việt Nam có hai điểm yếu kém là : [ 11 ] vấn nạn phe phái, và chính sách nghĩa vụ và trách nhiệm tập thể .Theo nhà nghiên cứu và phân tích David Koh của Viện Nghiên cứu Khu vực Đông Nam Á ở Nước Singapore thì tư tưởng phe phái đã ăn sâu vào trong chính sách, trong nền văn hóa truyền thống người Việt nên không hề gỡ ra được. Còn về nghĩa vụ và trách nhiệm tập thể, chính sách tập thể chịu nghĩa vụ và trách nhiệm khiến cho nghĩa vụ và trách nhiệm của cá thể chỉ huy trở nên không tách bạch, khi họ làm sai thì thường đổ lỗi cho tập thể .

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Related Articles

Responses

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *