Hổ – Wikipedia tiếng Việt

Hổ hay còn gọi là cọp hoặc hùm (và các tên gọi khác như Ông ba mươi, kễnh, khái) là một loài động vật có vú thuộc họ Mèo được xếp vào một trong năm loài “mèo lớn” thuộc chi Panthera.[4] Hổ là một loài thú ăn thịt, chúng dễ nhận biết nhất bởi các sọc vằn dọc sẫm màu trên bộ lông màu đỏ cam với phần bụng trắng. Hổ là loài thú lớn nhất trong họ nhà Mèo và là động vật lớn thứ ba trong các loài thú ăn thịt (sau gấu Bắc Cực và gấu nâu). Hổ là một trong những loài động vật có biểu tượng lôi cuốn và dễ nhận biết nhất trên thế giới với những sọc vằn vện không lẫn vào đâu được. Chúng nổi bật trong thần thoại và văn hóa dân gian cổ đại, tiếp tục được miêu tả trong các bộ phim và văn học hiện đại, xuất hiện trên nhiều lá cờ, phù hiệu áo giáp và làm linh vật cho các đội tuyển thể thao. Đặc biệt trong văn hóa phương Đông, hổ được mệnh danh là “chúa sơn lâm”. Do đó, chúng là biểu tượng quốc gia của nhiều nước như Ấn Độ, Bangladesh, Malaysia và Hàn Quốc.

Phần lớn những loài hổ sống trong rừng và đồng cỏ ( những khu vực mà năng lực ngụy trang của chúng tương thích nhất ). Trong số những loài mèo lớn, chỉ có hổ và báo đốm là bơi giỏi, và thường thì người ta hay thấy hổ tắm trong ao, hồ và sông. Hổ kém mèo nhà và báo hoa mai về năng lực leo trèo. Hổ đi săn đơn lẻ, thức ăn của chúng hầu hết là những động vật hoang dã ăn cỏ cỡ trung bình như hươu, nai, lợn rừng, trâu, v.v. Tuy nhiên chúng cũng hoàn toàn có thể bắt những loại mồi cỡ to hay nhỏ hơn nếu thực trạng được cho phép. Hổ có tập tính chủ quyền lãnh thổ cao và nói chung là một loài săn mồi đơn độc nhưng có nhiều đặc thù xã hội, yên cầu những khu vực sinh sống tiếp giáp to lớn, tương hỗ những nhu yếu của nó so với con mồi và nuôi dưỡng con cháu. Những con hổ con ở với mẹ của chúng trong khoảng chừng hai năm, trước khi chúng trở nên tự lập và rời khỏi khoanh vùng phạm vi nhà của mẹ chúng để tìm chủ quyền lãnh thổ riêng của mình. Hổ là một trong số nhiều loài động vật hoang dã ăn thịt nằm ở mắt xích ở đầu cuối của những chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái tự nhiên. Chúng có tuổi thọ trung bình khoảng chừng 20 năm .Hổ từng có khoanh vùng phạm vi phân bổ to lớn từ vùng Đông Anatolia thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ở phía tây đến lưu vực sông Amur và ở phía nam từ chân đồi của dãy Himalaya đến hòn đảo Bali ở quần đảo Sunda. Kể từ đầu thế kỷ 20, quần thể hổ đã mất tối thiểu 93 % khoanh vùng phạm vi lịch sử dân tộc của chúng và đã bị tuyệt chủng ở Tây và Trung Á, từ những hòn đảo Java, Bali và ở những khu vực to lớn ở Khu vực Đông Nam Á, Nam Á, Trung Quốc. Quần thể hổ ngày này bị chia cắt, trải dài từ rừng ôn đới Siberia đến rừng nhiệt đới gió mùa và cận nhiệt đới ở tiểu lục địa Ấn Độ và Sumatra. Hổ được liệt kê là loài có rủi ro tiềm ẩn tuyệt chủng trong Sách đỏ IUCN kể từ năm 1986. Tính đến năm năm ngoái, quần thể hổ hoang dã toàn thế giới được ước tính có khoảng chừng từ 3.062 đến 3.948 thành viên trưởng thành, giảm khoảng chừng 100.000 ( 95 % ) so với đầu thế kỷ 20, với hầu hết những quần thể còn lại xảy ra trong những khu vực nhỏ bị cô lập với nhau. Những nguyên do chính cho sự suy giảm số lượng hổ gồm có tàn phá thiên nhiên và môi trường sống, phân mảnh thiên nhiên và môi trường sống và nạn săn trộm. Hổ thường bị săn bắt để lấy da, xương, hay những bộ phận khác. Điều này, cùng với việc chúng thường sống ở một số ít nơi đông dân trên Trái Đất, đã gây ra những xung đột đáng kể với con người .

Phân loại và di truyền học[sửa|sửa mã nguồn]

Năm 1758, Carl Linnaeus đã mô tả con hổ trong tác phẩm Systema Naturae và đặt cho nó cái tên khoa học Felis tigris. Năm 1929, nhà phân loại học người Anh Reginald Innes Pocock đã đặt tên cho loài này dưới chi Panthera bằng tên khoa học Panthera tigris.

Bạn đang đọc: Hổ – Wikipedia tiếng Việt

Panthera zdanskyi, một loài hổ đã tuyệt chủng có hóa thạch được tìm thấy ở phía tây bắc Trung QuốcPhục chế hộp sọ, một loài hổ đã tuyệt chủng có hóa thạch được tìm thấy ở phía tây-bắc Trung QuốcHọ hàng gần nhất của loài hổ trước đây được cho là sư tử, báo hoa mai và báo đốm của chi Panthera. Hổ có lẽ rằng đã từng có chung nguồn gốc từ những tổ tiên châu Phi thời xưa, cách đây 2 triệu năm trước, một nhánh của chúng đã di cư về phía đông ( tức châu Á ) và tăng trưởng khung hình với những sọc màu đen, cam, trắng như thời nay. Thậm chí cho đến 16,000 năm trước, sự chuyển dời ngược lại của chúng về hướng tây chỉ mới đến Ấn Độ. Một khi đã định cư tại vùng Đông Bắc Á, chúng không khi nào trở về quê nhà châu Phi. Qua thời hạn lịch sử dân tộc, loài hổ đã chọn châu Á làm nơi định cư lâu bền hơn và tạo nên rất nhiều phân họ. Các quá trình băng hà và hàng rào địa lý được cho là những nguyên do chính gây khó khăn vất vả cho sự hồi hương của loài hổ. Ngoài ra, tập tính của hai loài sư tử và hổ trái ngược nhau cũng được xem xét là một nguyên do. Trong khi loài sư tử sống và săn mồi theo bầy đàn, rất thích hợp trên môi trường tự nhiên đồng cỏ savan, thì loài hổ sở hữu tính cách đơn độc trong đời sống, lại thích hợp với khoảng trống rậm rạp của rừng mưa nhiệt đới gió mùa, cần phải có bình phong để che giấu cho một cuộc phục kích [ 5 ] .

Kết quả phân tích di truyền chỉ ra rằng khoảng 2,88 triệu năm trước, hổ và báo tuyết tách khỏi các loài Panthera khác, và cả hai có thể liên quan chặt chẽ với nhau hơn so với sư tử, báo hoa mai và báo đốm. P. t. palaeosinensis từ thời kỳ Pleistocene sớm ở miền bắc Trung Quốc là loài hổ nguyên thủy nhất được biết đến cho đến nay. Hóa thạch của Panthera zdanskyi đã được khai quật tại tỉnh Cam Túc thuộc tây bắc Trung Quốc. Loài này sống vào đầu kỷ Pleistocene khoảng hai triệu năm trước và được coi là một loài anh em của loài hổ hiện đại. Nó có kích thước bằng một con báo đốm và có thể có một mẫu lông khác. Mặc dù được coi là “nguyên thủy” hơn, nhưng nó có chức năng và cũng có thể tương tự về mặt sinh thái với loài hổ hiện đại. Tây Bắc Trung Quốc được cho là nguồn gốc của dòng dõi hổ. Những con hổ đã tăng kích thước, có thể là để đáp ứng với bức xạ thích nghi của các loài con mồi như hươu và bò, có thể đã xảy ra ở Đông Nam Á trong thời kỳ đầu của Pleistocene.

Phân loài Panthera tigris trinilensis sống cách đây khoảng 1,2 triệu năm và được biết đến từ các hóa thạch được khai quật gần di chỉ Trinil ở Java. Loài hổ Wanhsien, Ng Shandong, Trinil và Nhật Bản đã tuyệt chủng trong thời tiền sử. Những con hổ đến Ấn Độ và Bắc Á vào cuối kỷ Pleistocene, đến phía đông Beringia, Nhật Bản và Sakhalin. Một số hộp sọ hóa thạch khác biệt về mặt hình thái so với sọ sư tử, có thể cho thấy sự hiện diện của hổ ở Alaska trong thời kỳ băng hà cuối cùng, khoảng 100.000 năm trước. Hóa thạch hổ được tìm thấy ở quần đảo Palawan nhỏ hơn hóa thạch hổ đại lục, có thể là do bệnh lùn nội tạng. Hóa thạch của hổ cũng được khai quật ở Sri Lanka, Trung Quốc, Nhật Bản, Sarawak có niên đại cuối thế Pliocene, Pleistocene và thế Holocene sớm. Hổ Borneo đã có mặt ở Borneo giữa cuối kỷ Pleistocene và Holocene, nhưng có thể đã tuyệt chủng trong thời tiền sử.

Phạm vi hổ tiềm năng trong tiến trình cuối Pleistocene và Holocene được Dự kiến sẽ vận dụng quy mô thích hợp sinh thái dựa trên hơn 500 hồ sơ địa phương hổ tích hợp với tài liệu thời tiết sinh học. Mô hình hiệu quả cho thấy một khoanh vùng phạm vi hổ tiếp giáp từ miền nam Ấn Độ đến Siberia ở Cực đại băng hà sau cuối, cho thấy dòng gen không bị cản trở giữa những quần thể hổ ở lục địa châu Á trong suốt thời kỳ cuối của Pleistocene và Holocene. Các quần thể hổ trên quần đảo Sunda và lục địa châu Á hoàn toàn có thể bị tách ra trong những thời kỳ gian băng. Kết quả của một nghiên cứu và điều tra về thực vật học cho thấy rằng toàn bộ những con hổ còn sống đều có niên đại chung 72.000 – 108.000 năm về trước. Trình tự bộ gen không thiếu của hổ đã được xuất bản vào năm 2013. Nó đã được tìm thấy có thành phần lặp lại tựa như như những bộ gen mèo khác và một cú pháp được bảo tồn đáng kể .
Mối quan hệ phát sinh của quần thể hổ

Theo mô tả đầu tiên của Linnaeus về loài này, một số mẫu hổ đã được mô tả và đề xuất như là phân loài. Tính hợp lệ của một số phân loài hổ đã được đặt câu hỏi vào năm 1999. Hầu hết các phân loài giả định được mô tả trong thế kỷ 19 và 20 được phân biệt dựa trên chiều dài lông và màu sắc, kiểu sọc và kích thước cơ thể, do đó các đặc điểm khác nhau trong quần thể. Về mặt hình thái, hổ từ các khu vực khác nhau rất ít và dòng gen giữa các quần thể trong các khu vực đó được coi là có thể xảy ra trong thời kỳ Pleistocene. Do đó, đề xuất chỉ công nhận hai phân loài hổ là hợp lệ, cụ thể là P. t. tigris ở lục địa châu Á và P. t. sondaica ở quần đảo Sunda.

Kết quả phân tích sọ của 111 hộp sọ hổ từ các quốc gia Đông Nam Á cho thấy sọ hổ Sumatra khác với sọ hổ Đông Dương và hổ Java, trong khi sọ hổ Bali có kích thước tương tự sọ hổ Java. Các tác giả đã đề xuất phân loại hổ Sumatra và hổ Java là các loài khác nhau, P. sumatraeP. sondaica với hổ Bali là phân loài P. sondaica balica.

Trong năm 2015, các đặc điểm hình thái, sinh thái và phân tử của tất cả các phân loài hổ giả định đã được phân tích theo cách tiếp cận kết hợp. Kết quả hỗ trợ phân biệt hai nhóm tiến hóa lục địa và hổ Sunda. Các tác giả đề xuất công nhận chỉ có hai phân loài là P. t. tigris bao gồm các quần thể hổ Bengal, Mã Lai, Đông Dương, Hoa Nam, Siberia và Caspia, và P. t. sondaica bao gồm các quần thể hổ Sumatra, Java và Bali. Các tác giả cũng lưu ý rằng việc phân loại lại này sẽ ảnh hưởng đến quản lý bảo tồn hổ. Một chuyên gia bảo tồn hoan nghênh đề xuất này vì nó sẽ làm cho các chương trình nhân giống nuôi nhốt và tái tạo trong tương lai của những con hổ sinh ra trong vườn thú dễ dàng hơn. Một nhà di truyền học đã nghi ngờ nghiên cứu này và cho rằng chín phân loài hiện được công nhận có thể được phân biệt về mặt di truyền.

Năm 2017, Lực lượng chuyên trách về phân loại mèo của Nhóm chuyên gia nghiên cứu về các loài mèo của IUCN đã sửa đổi phân loại họ mèo và hiện công nhận quần thể hổ ở lục địa châu Á là P. t. tigris, và những con hổ ở quần đảo Sunda là P. t. sondaica, như vậy theo cách phân loại mới thì loài hổ chỉ có 02 phụ loài.

Các phân loài[sửa|sửa mã nguồn]

Hổ Siberia Hổ Mãn ChâuCó chín nòi ( phân loài ) hổ khác nhau, ba trong số đó đã tuyệt chủng và một hoàn toàn có thể cũng sẽ tuyệt chủng trong tương lai gần. Cụ thể như sau :
Khu vực sinh sống trong lịch sử dân tộc của chúng ( thu nhỏ một cách đáng kể thời nay ) chạy từ Nga, Siberia, Iran, Afghanistan, Ấn Độ, Trung Quốc và Khu vực Đông Nam Á, gồm có cả quần đảo Indonesia. Dưới đây là những nòi còn sống sót, theo trật tự tăng dần của quần thể hoang dã :
Không có nhiều hoá thạch của loài hổ được tìm thấy, ngoại trừ những hoá thạch tìm thấy hầu hết ở Khu vực Đông Nam Á thuộc kỷ Pleistocene. Tuy nhiên, có những phần hoá thạch 100.000 năm tuổi của hổ tìm thấy ở Alaska. Có lẽ trải qua đường nối giữa Siberia và Alaska trong kỷ Băng hà, con hổ này thuộc quần thể hổ Bắc Mỹ của nòi hổ Siberia. Ngoài ra, những nhà khoa học cũng phát hiện mối tương đương giữa xương hổ với loài sư tử Bắc Mỹ : một loài họ mèo tuyệt chủng đã thống trị vùng Bắc Mỹ khoảng chừng 10.000 năm trước. Những phát hiện xích míc này dẫn đến một giả thuyết rằng loài sư tử châu Mỹ có nguồn gốc là một loài hổ lục địa mới. Những hoá thạch của loài hổ được khai thác được ở Nhật Bản cho thấy loài hổ Nhật Bản không lớn hơn những nòi hổ thuộc những hòn đảo cùng thời kỳ. Hiện tượng này có lẽ rằng là do mối đối sánh tương quan giữa kích cỡ khung hình và khoảng chừng khoảng trống trống cũng như tỷ lệ con mồi không nhiều .

Hổ trong điều kiện nuôi nhốt được lai tạo với sư tử để tạo ra các giống lai gọi là liger (Sư hổ) và tigon (Hổ sư). Chúng chia sẻ phẩm chất thể chất và hành vi của cả hai loài bố mẹ. Nhân giống lai hiện không được khuyến khích do sự nhấn mạnh vào bảo tồn.

Liger là con lai giữa sư tử đực và hổ cái. Ligers thường có chiều dài từ 10 đến 12 ft ( 3.0 đến 3.7 m ) và nặng từ 800 đến 1.000 lb ( 360 đến 450 kg ) trở lên. Bởi vì sư tử đực truyền gen thôi thúc tăng trưởng, nhưng gen ức chế tăng trưởng tương ứng từ hổ cái không có, Sư hổ tăng trưởng lớn hơn nhiều so với những loài cha mẹ .Tigon ít phổ cập hơn là sự giao thoa giữa sư tử cái và hổ đực. Bởi vì hổ đực không truyền gen thôi thúc tăng trưởng và sư tử cái truyền gen ức chế tăng trưởng, Tigon sinh ra có kích cỡ tương tự với cha mẹ chúng. Một số con cháu có năng lực sinh sản và nhiều lúc đã sinh ra những litigons khi giao phối với một con sư tử cái châu Á .
Phạm vi sinh sống trong quá khứ của hổHổ từng có khoanh vùng phạm vi rộng khắp lục địa châu Á từ phía đông Thổ Nhĩ Kỳ và Transcaucasia đến dãy núi Altai, hồ Baikal và bờ biển Nhật Bản, và ở phía nam từ tiểu lục địa Ấn Độ qua Khu vực Đông Nam Á đến những hòn đảo Sunda của Sumatra, Java và Bali. Kể từ khi kết thúc thời kỳ băng hà ở đầu cuối khoảng chừng 20.000 năm trước, sự phân bổ của chúng ở những vương quốc phía bắc có lẽ rằng đã bị hạn chế bởi thời kỳ tuyết sâu lê dài hơn sáu tháng. Chúng hầu hết gắn bó với môi trường tự nhiên sống trong rừng. Phân bố của chúng gắn chặt với phân bổ và tỷ lệ của những loài động vật hoang dã móng guốc. Quần thể hổ tăng trưởng mạnh nơi quần thể thuộc bộ huơu nai, trâu bò và lợn không thay đổi .Khoảng một chục ghi chép lịch sử dân tộc được biết đến từ Thổ Nhĩ Kỳ chỉ ra rằng hổ chỉ sống ở những vùng xa xôi của miền đông Anatolia, hoàn toàn có thể cho đến cuối thế kỷ 20. Ở Iraq, một con hổ đã bị bắn gần Mosul vào năm 1887. Cá thể này có lẽ rằng là một con hổ di cư từ phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, vì đây là hồ sơ được xác nhận duy nhất ở nước này. Ở vùng Kavkaz, hổ sinh sống ở vùng đồi núi và vùng đất thấp. Các ghi chép lịch sử vẻ vang ở Iran chỉ được biết đến từ bờ biển phía nam của Biển Caspi và dãy núi Alborz liền kề. Các ghi chép ở Trung Á cho thấy hổ Open số 1 trong những khu rừng Tugay ven sông dọc theo sông Atrek, Amu Darya, Syr Darya, Hari Rud, Chuy và Ili và những nhánh của chúng. Năm 2003, chúng đã được nhìn nhận là tuyệt chủng khu vực ở Tây và Trung Á kể từ cuối thế kỷ 20, vì con hổ ở đầu cuối được nhìn thấy ở khu vực này vào đầu những năm 1970 .Ở Đông Á, hổ sinh sống ở rừng thông Triều Tiên và rừng lá rộng và hỗn hợp ôn đới ở Viễn Đông Nga. Rừng ven sông là môi trường tự nhiên sống quan trọng cho cả động vật hoang dã móng guốc và hổ vì chúng cung ứng thức ăn và nước uống, và đóng vai trò là hiên chạy phân tán. Tại Trung Quốc, hổ đã trở thành tiềm năng của những chiến dịch quy mô lớn ‘ chống sâu bệnh vào đầu những năm 1950. Săn hổ cùng với nạn phá rừng, hoàn toàn có thể làm giảm năng lực sẵn có của con mồi và tái định cư của người dân đến những vùng nông thôn dẫn đến sự phân mảnh của thiên nhiên và môi trường sống của hổ. Mặc dù săn bắn hổ đã bị cấm vào năm 1977, số lượng vẫn liên tục giảm. Không có con hổ nào được ghi nhận trong những cuộc khảo sát thực địa năm 2001 tại tám khu vực được bảo vệ trong nước. Ở phía Khu bảo tồn vạn vật thiên nhiên vương quốc Hunchun thuộc Đông Bắc Trung Quốc, bẫy ảnh đã ghi lại được hổ với bốn con lần tiên phong vào năm 2012. Trong những cuộc tìm hiểu sau đó, từ 27 đến 34 con hổ đã được ghi nhận dọc biên giới Trung Quốc-Nga. Không có vật chứng cho sự hiện hữu của hổ ở bất kể tỉnh nào khác của Trung Quốc. Chúng được coi là hoàn toàn có thể đã tuyệt chủng trên bán đảo Triều Tiên .
Một con hổ băng qua sông ở SundarbansHổ từng xuất hiện ở khắp những tỉnh miền núi Nước Ta. Hiện nay chỉ còn ở những tỉnh có rừng núi hẻo lánh thuộc biên giới Việt – Lào, Lâm Đồng, Nghệ An, Quảng Trị. Độ bao trùm rừng ở Nước Ta đã bị giảm xuống dưới 15 % so với khởi đầu trước những năm 1940, do cuộc chiến tranh, khai thác gỗ phạm pháp, và đốt rừng để tăng trưởng nông nghiệp. Hổ được bảo vệ hợp pháp ở nước này từ năm 1960, nhưng việc kinh doanh những bộ phận khung hình hổ vẫn liên tục đến giữa những năm 1990. Hổ vẫn còn hiện hữu ở miền bắc Nước Ta giáp Trung Quốc vào những năm 1990. Kể từ năm năm ngoái, quần thể này được coi là có năng lực tuyệt chủng .Tại Lào, Khu bảo tồn đa dạng sinh học vương quốc được xây dựng vào năm 1993. Vào thời gian đó, dân số hổ đã hết sạch. Đến cuối những năm 1990, hổ vẫn xuất hiện ở tối thiểu năm khu vực bảo tồn. Săn hổ để kinh doanh phạm pháp những bộ phận khung hình và săn bắt thời cơ được coi là mối rình rập đe dọa chính so với quần thể hổ của quốc gia. Năm con hổ riêng không liên quan gì đến nhau đã được ghi nhận tại Khu bảo tồn vương quốc Nam Et-Phou Louey trong cuộc khảo sát bẫy camera giữa tháng 4 năm 2003 và tháng 6 năm 2004. Con mồi hoang dã lớn Open với tỷ lệ thấp buộc hổ phải săn con mồi nhỏ và gia súc, hoàn toàn có thể tác động ảnh hưởng xấu đi đến sinh sản của chúng .Ở Campuchia, hổ vẫn được nhìn thấy ở những khu vực rừng hẻo lánh vào giữa những năm 1980. Các khu vực được bảo vệ được xây dựng vào năm 1993, nhưng những khu rừng to lớn bên ngoài những khu vực này đã được đưa ra như một sự nhượng bộ khai thác gỗ cho những công ty quốc tế. Một cuộc khảo sát phỏng vấn được triển khai giữa những thợ săn vào mùa xuân năm 1998 cho thấy sự hiện hữu của hổ trong chín khu vực gồm có Phnom Kravanh và dãy núi Dâmrei. Trong những cuộc tìm hiểu bẫy ảnh được thực thi từ năm 1999 đến 2007 tại chín khu vực được bảo vệ và hơn 300 khu vực trên cả nước, hổ chỉ được ghi lại trong Khu rừng được bảo vệ ở Mondulkiri và trong Vườn vương quốc Virachey. Do đó, quần thể hổ của Campuchia được coi là cực kỳ nhỏ. Kể từ năm năm ngoái, chúng được coi là hoàn toàn có thể bị tuyệt chủng .Ở Xứ sở nụ cười Thái Lan, rừng được bảo vệ bằng cách xây dựng 81 vườn vương quốc, 39 khu bảo tồn động vật hoang dã hoang dã và 49 khu vực cấm săn bắn trong khoảng chừng thời hạn từ 1962 đến 1996, gồm có 12 khu vực được bảo vệ rộng hơn 1.000 km2 ( 390 dặm vuông ). Khai thác rừng đã bị cấm vào năm 1989. Mặc dù mạng lưới khu vực được bảo vệ thoáng rộng này, hổ đã được ghi nhận ở 10 trong số 17 khu phức tạp được bảo vệ trong những cuộc khảo sát trên toàn nước từ năm 2004 đến năm 2007. Mật độ hổ thấp hơn Dự kiến dựa trên môi trường tự nhiên sống có sẵn của rừng. Quần thể hổ ở Myanmar bị số lượng giới hạn ở Vùng Tanintharyi và Khu bảo tồn hổ thung lũng Hukawng năm 2006. Ở bán đảo Mã Lai, hổ chỉ Open ở bốn khu vực được bảo vệ rộng hơn 400 km2 ( 150 dặm vuông ). Ở Sumatra, quần thể hổ trải dài từ những khu rừng đầm lầy than bùn ở vùng đất thấp đến những khu rừng trên núi không nhẵn .

Ở tiểu lục địa Ấn Độ, quần thể hổ phân mảnh cư trú ở Sundarbans, khu vực được bảo vệ của lưu vực sông Brahmaputra và Terai thuộc Ấn Độ và Nepal. Ở chân đồi của dãy núi Himalaya, hổ có thể sinh sống ở độ cao hơn 3.500 m (11.500 ft) trong các khu rừng ôn đới của Bhutan. Đến năm 2007, chương trình Dự án Hổ (Project Tiger) của Ấn Độ bao gồm 37 khu bảo tồn hổ với diện tích khoảng 37.700 dặm vuông (98.000 km2).

Hổ có thân hình vạm vỡ với chân trước can đảm và mạnh mẽ, đầu to và đuôi dài khoảng chừng 50% khung hình. Xương chậu của nó dày và nặng, và sắc tố khác nhau giữa những sắc thái của màu cam và màu nâu với những vùng bụng màu trắng và những sọc đen dọc đặc biệt quan trọng là duy nhất ở mỗi thành viên. Các sọc có năng lực thuận tiện cho việc ngụy trang trong thảm thực vật như cỏ dài với những kiểu ánh sáng và bóng râm thẳng đứng, màu xam giúp chúng trở nên tàng hình trong mắt những con mồi. Hổ là một trong số ít loài mèo có sọc ; người ta không biết tại sao hoa văn đốm và hoa hồng / hoa mai là kiểu ngụy trang thông dụng hơn trong số những loài họ mèo .Mẫu lông của hổ vẫn hoàn toàn có thể nhìn thấy khi nó được cạo. Điều này không phải do sắc tố da, mà là do râu và nang lông dính trong da, tựa như như râu người, và phổ cập với những con mèo lớn khác. Chúng có bộ lông tăng trưởng giống như bờm quanh cổ và hàm và râu dài, đặc biệt quan trọng là ở con đực. Con ngươi có hình tròn trụ với tròng vàng. Đôi tai nhỏ, tròn có một đốm trắng điển hình nổi bật ở mặt sau, được bao quanh bởi màu đen. Những ” con mắt ” giả này, được gọi là ocelli, có vẻ như đóng một vai trò quan trọng trong tiếp xúc trực quan .Hộp sọ của hổ tựa như như hộp sọ của sư tử, với vùng phía trước thường ít bị lõm hoặc xẹp, và vùng sau hấp thụ dài hơn một chút ít. Hộp sọ sư tử cho thấy mở mũi rộng hơn. Do sự đổi khác kích cỡ hộp sọ của hai loài, cấu trúc của hàm dưới là một chỉ số đáng đáng tin cậy để nhận dạng chúng. Hổ có hàm răng khá to ; răng nanh hơi cong của nó là dài nhất trong số những con mèo còn sống với chiều dài lên tới 90 mm ( 3,5 in ) .
Có một sự dị hình giới tính đáng chú ý quan tâm giữa đực và cái, với con cái luôn nhỏ hơn con đực. Sự độc lạ về kích cỡ giữa con đực và con cháu lớn hơn tương ứng trong những phân loài hổ lớn, với con đực nặng hơn tới 1,7 lần so với con cái. Con đực cũng có miếng đệm trước rộng hơn con cháu. Người ta đã đưa ra giả thuyết rằng size khung hình của những quần thể hổ khác nhau hoàn toàn có thể đối sánh tương quan với khí hậu và được lý giải bằng cách kiểm soát và điều chỉnh nhiệt và quy tắc của Bergmann, hoặc bằng cách phân phối và size của những loài con mồi có sẵn .Thông thường, con hổ đực khác nhau về tổng chiều dài từ 250 đến 390 cm ( 8.2 đến 12.8 ft ) và nặng từ 90 đến 306 kg ( 198 và 675 lb ) với chiều dài hộp sọ giao động từ 316 đến 383 mm ( 12,4 đến 15,1 in ). Con cái khác nhau về tổng chiều dài từ 200 đến 275 cm ( 6,56 đến 9,02 ft ), nặng từ 65 đến 167 kg ( 143 đến 368 lb ) với chiều dài hộp sọ giao động từ 268 đến 318 mm ( 0.879 đến 1.043 ft ). Trong cả hai giới, đuôi dài khoảng chừng 0,6 đến 1,1 m ( 24 đến 43 in ). Những con hổ Bengal và Siberia là một trong những con mèo cao nhất về chiều cao ngang vai. Chúng cũng được xếp hạng trong số những con mèo lớn nhất từng sống sót. Những con hổ của quần đảo Sunda nhỏ hơn và ít nặng hơn hổ ở lục địa châu Á, hiếm khi vượt quá khối lượng 142 kg ( 313 lb ) .Những con hổ Siberia đực lớn đạt tổng chiều dài hơn 3,5 m ( 11,5 ft ) trên những đường cong và 3,3 m ( 10,8 ft ) giữa những chốt, với khối lượng lên tới tối thiểu 300 kg ( 660 lb ). Con số này lớn hơn đáng kể so với khối lượng 75 đến 140 kg ( 165 đến 309 lb ) mà con hổ Sumatra đạt được. Ở vai, hổ hoàn toàn có thể cao từ 0,7 đến 1,22 m ( 2,3 đến 4,0 ft ) .Những con hổ Bengal đực có tổng chiều dài từ mũi đến đuôi từ 270 đến 310 cm ( 110 đến 120 in ) và nặng từ 180 đến 258 kg ( 397 đến 569 lb ), trong khi con cháu xê dịch từ 240 đến 265 cm ( 94 đến 104 in ) và nặng từ 100 đến 160 kg ( 220 đến 350 lb ). Ở miền bắc Ấn Độ và Nepal, hổ Bengal có kích cỡ trung bình là lớn hơn ; con đực nặng tới 235 kg ( 518 lb ), trong khi con cháu trung bình là 140 kg ( 310 lb ). Trọng lượng khung hình được ghi nhận của những thành viên hoang dã ở đây cho thấy chúng nặng hơn hổ hoang dã Siberia .
Mặc dù hộp sọ của hổ tương tự như như của sư tử, cấu trúc hàm dưới là một chỉ số đáng đáng tin cậy của loàiCon hổ hoang dã lớn nhất từng được báo cáo giải trình có tổng chiều dài khung hình là 3,38 m ( 11,1 ft ) trên những đường cong. Con hổ bị nhốt nặng nhất là một con hổ Siberia nặng tới 465 kg ( 1.025 lb ). Con hổ hoang dã nặng nhất được ghi nhận là một con hổ Bengal từ phía bắc Ấn Độ đã bị bắn vào năm 1967. Nó được cho là nặng tới 388,7 kg ( 857 lb ), mặc dầu cần chú ý quan tâm rằng nó đã có một bữa ăn no trước khi bị giết, mặc dầu nếu chưa ăn thì nó cũng nặng ít hơn không đáng kể. Hộp sọ hổ dài nhất là 16,25 in ( 413 mm ) được đo ” trên xương ” ; thành viên này đã bị bắn vào năm 1927 ở miền bắc Ấn Độ .
Hổ trắng ở vườn thú HaifaMàu của chúng hoàn toàn có thể là bất kể màu nào trong khoảng chừng từ vàng đến đỏ-da cam, với những khu vực màu trắng trên ngực, cổ, cũng như phần bên trong của chân. Một vài biến thể về sắc tố của hổ được ghi nhận như : [ 9 ]

  • Hổ trắng (Bạch hổ): Một biến thể gen lặn phổ biến, có thể xuất hiện với sự tổ hợp phù hợp của bố mẹ chúng, chúng không phải là những con thú bạch tạng.
  • Hổ vàng hay hổ khoang vàng: Chúng có màu vàng nhưng nhạt hơn màu của hổ bình thường và các vằn là màu nâu. Biến thể về màu sắc này rất hiếm, chỉ có một nhóm nhỏ hổ khoang vàng tồn tại và đều trong tình trạng bị giam cầm (Hiện có khoảng 30 con hổ khoang vàng được nuôi dưỡng tại các vườn thú trên toàn thế giới).
  • Hổ đen hay hổ nhiễm hắc tố (Hắc hổ): Cũng được thông báo là có, nhưng chưa có các mẫu sống kiểm chứng.
  • Hổ xám hay hùm xám, hổ lam (Thanh hổ): Trong các tài liệu có nhắc đến hổ lam, thực ra là có tông màu xám bạc, mặc dù chưa có chứng cứ thật đáng tin cậy.

Các vằn của phần đông những nòi hổ xê dịch trong khoảng chừng nâu / xám tới đen thuần, mặc dầu hổ trắng có rất ít những vằn. Hình dạng và tỷ lệ những vằn đổi khác theo từng nòi, nhưng hầu hết những nòi đều có trên 100 vằn. Hổ Java nay đã tuyệt chủng hoàn toàn có thể có nhiều hơn. Các mẫu vằn là duy nhất cho từng thành viên, và vì vậy hoàn toàn có thể sử dụng để xác lập từng thành viên giống như mẫu vân tay ở người. Tuy nhiên điều này không phải là chiêu thức được ưa thích để xác lập, vì sự khó khăn vất vả trong việc ghi chép những mẫu vằn của hổ hoang dã. Mục đích của những vằn có lẽ rằng là để ngụy trang, giúp chúng coi là ẩn so với những con mồi ( có rất ít những loài thú có cảm xúc màu như con người, cho nên vì thế sắc tố chưa hẳn đã là yếu tố quan trọng như người ta vẫn nghĩ ) .

Tập tính và sinh thái xanh[sửa|sửa mã nguồn]

Hổ có năng lực nhìn rất tốt trong đêm hôm

Hoạt động thường ngày[sửa|sửa mã nguồn]

Khi không chịu sự xáo trộn của con người, hổ chủ yếu hoạt động ban ngày. Giống như các loài trong họ mèo khác, hổ có khả năng trèo cây nhưng chúng không quá khéo léo trong việc này, nên rất hiếm khi trèo; tuy nhiên có các trường hợp đặc biệt đã được ghi nhận lại như một con hổ đã cố gắng leo cây để săn khỉ[cần dẫn nguồn]. Chúng là một vận động viên bơi lội cừ khôi và thường tắm trong ao, hồ và sông để giữ mát trong cái nóng ban ngày. Các cá thể có thể vượt sông rộng tới 7 km (4,3 mi) và có thể bơi tới 29 km (18 mi) trong một ngày. Trong những năm 1980, một con hổ đã được quan sát thấy thường xuyên săn con mồi qua hồ nước sâu trong Công viên Quốc gia Ranthambhore.

Hổ là một loài động vật hoang dã có chủ quyền lãnh thổ hoạt động giải trí rất rộng, và những thành viên phân tán trên khoảng cách lên tới 650 km ( 400 dặm ) để đến với quần thể hổ ở những khu vực khác. Những con hổ được quan sát ở Công viên Quốc gia Chitwan mở màn phân tán khỏi khu vực tự nhiên của chúng sớm nhất ở tuổi 19 tháng. Bốn con cháu phân tán trong khoảng chừng từ 0 đến 43,2 km ( 0,0 đến 26,8 mi ) và 10 con đực trong khoảng chừng 9,5 đến 65,7 km ( 5,9 đến 40,8 mi ). Không ai trong số chúng vượt qua những khu vực canh tác lan rộng ra hơn 10 km ( 6,2 mi ), nhưng chuyển dời qua thiên nhiên và môi trường sống có rừng .
Hổ rất thích nước và thường ngâm mình dưới nước để tránh nóng Một con hổ được nuôi nhốt đang chơi trong một hồ nướcHổ trưởng thành có đời sống đơn độc. Chúng thiết lập và duy trì những chủ quyền lãnh thổ nhưng có khoanh vùng phạm vi nơi ở rộng hơn nhiều để chúng đi long dong. Những thành viên trưởng thành ở cả hai giới thường số lượng giới hạn những hoạt động của chúng trong khoanh vùng phạm vi chủ quyền lãnh thổ của mình, trong đó chúng cung ứng nhu yếu của mình và những thành viên đang tăng trưởng. Các thành viên có chung khu vực nhận thức được những hoạt động giải trí của nhau. Kích thước của khoanh vùng phạm vi chủ quyền lãnh thổ đa phần phụ thuộc vào vào sự đa dạng chủng loại của con mồi, khu vực địa lý và giới tính của thành viên. Ở Ấn Độ, khoanh vùng phạm vi chủ quyền lãnh thổ có vẻ như là từ 50 đến 1.000 km2 ( 19 đến 386 dặm vuông ) trong khi ở Mãn Châu, chúng có diện tích quy hoạnh từ 500 đến 4.000 km2 ( 190 đến 1.540 dặm vuông ). Ở Nepal, những vùng chủ quyền lãnh thổ được bảo vệ được ghi nhận là 19 đến 151 km2 ( 7,3 đến 58,3 dặm vuông ) so với đực và 10 đến 51 km2 ( 3,9 đến 19,7 dặm vuông ) so với cái .Những con hổ cái còn trẻ thiết lập chủ quyền lãnh thổ tiên phong của chúng gần với mẹ của chúng. Sự chồng chéo giữa chủ quyền lãnh thổ của con cháu và mẹ giảm dần theo thời hạn. Tuy nhiên, con đực di cư xa hơn so với con cái và mở màn ở độ tuổi trẻ hơn để ghi lại khu vực chủ quyền lãnh thổ của chúng. Một con đực thu nhận chủ quyền lãnh thổ bằng cách tìm kiếm một khu vực không có hổ đực khác, hoặc sống trong thời điểm tạm thời trong chủ quyền lãnh thổ của con đực khác cho đến khi nó trưởng thành thật sự và đủ mạnh để thử thách con đực đang làm chủ. Những con đực non thường tìm cách tự lập nên tỷ suất tử trận cao nhất ( 30-35 % mỗi năm ) trong số những con hổ trưởng thành .Để xác lập chủ quyền lãnh thổ của mình, con đực lưu lại chủ quyền lãnh thổ bằng cách phun nước tiểu và dịch tiết tuyến hậu môn, cũng như lưu lại những con đường mòn bằng phân và ghi lại cây hoặc mặt đất bằng móng vuốt của chúng. Con cái cũng sử dụng những ” vết xước ” này, cũng như những tín hiệu nước tiểu và phân. Dấu hiệu mùi hương của loại này được cho phép một thành viên nhận thông tin về danh tính, giới tính và thực trạng sinh sản của con hổ đang làm chủ. Con cái trong động dục sẽ báo hiệu sự sẵn có của chúng bằng cách ghi lại mùi hương tiếp tục hơn và tăng tiếng kêu của chúng để lôi cuốn bạn tình .
Một con hổ Amur đang bơi ở sở thú WuppertalMặc dù hầu hết tránh nhau, hổ không phải khi nào cũng có chủ quyền lãnh thổ và mối quan hệ giữa những thành viên hoàn toàn có thể phức tạp. Một con hổ trưởng thành thuộc cả hai giới tính nhiều lúc sẽ san sẻ con mồi của mình với con hổ khác, ngay cả những thành viên hoàn toàn có thể không tương quan đến chúng. George Schaller quan sát một con đực san sẻ một con mồi với hai con cháu và bốn con non. Không giống như sư tử đực, hổ đực được cho phép con cháu và đàn con ăn thịt trước khi con đực ăn sau cuối ; toàn bộ những thành viên tương quan nói chung có vẻ như cư xử thân thiện, trái ngược với hành vi cạnh tranh đối đầu được biểu lộ bởi đàn của sư tử .Thỉnh thoảng, hổ đực tham gia nuôi đàn con, thường là của chúng, nhưng điều này cực kỳ hiếm và không phải khi nào cũng được hiểu rõ. Vào tháng 5 năm năm ngoái, hổ Amur đã bị chụp ảnh bởi bẫy ảnh trong Khu bảo tồn ở Sikhote-Alin. Các bức ảnh cho thấy một con hổ Amur đực đi ngang qua, theo sau là một con cháu và ba con non trong khoảng chừng hai phút. Ở Ranthambore, một con hổ đực đã nuôi nấng và bảo vệ hai con non mồ côi sau khi mẹ chúng chết vì bệnh. Đàn con vẫn được nó chăm nom, nó cung ứng cho chúng thức ăn, bảo vệ chúng khỏi thiên địch và những con hổ khác, và rõ ràng cũng đã giảng dạy chúng .Những con hổ đực thường không khoan dung với những con đực khác và khoan dung hơn với những con cháu trong chủ quyền lãnh thổ của chúng. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ thường được xử lý bằng cách hiển thị mối rình rập đe dọa chứ không phải là sự gây hấn trọn vẹn. Một số sự cố như vậy đã được quan sát trong đó con hổ cấp dưới mang lại thất bại bằng cách lăn lên sống lưng và để lộ bụng trong tư thế phục tùng. Một khi sự thống trị đã được thiết lập, một con đực hoàn toàn có thể tha thứ cho những thành viên dưới quyền trong khoanh vùng phạm vi của nó, miễn là chúng không sống ở khu vực quá gần. Tranh chấp nóng bức nhất có xu thế xảy ra giữa hai con đực khi con cháu đang động dục, và đôi lúc dẫn đến cái chết của một trong những con đực .Nước miếng của hổ hoàn toàn có thể khử trùng nên hổ thường liếm những chỗ bị thương. Hổ rất thính với mùi máu, chúng tỏ ra phát cuồng khi chúng ngửi mùi của một hợp chất hữu cơ trong máu, so với những loài ăn thịt khác. Hổ tỏ ra hứng khởi nhất khi ngửi mùi hợp chất trans-4, 5 – epoxy – ( E ) – 2 – decenalc, chúng còn hưng phấn hơn cả chó hoang châu Á và châu Phi, cũng như chó đồng cỏ Nam Mỹ. [ 10 ] Hổ có sức bật rất tốt, chúng hoàn toàn có thể nhảy cao 5 m và nhảy xa từ 9 – 10 m .
Một con hổ cái ở khu bảo tồn Kanha biểu lộ phản ứng flehmenCả con đực và con cháu đều bộc lộ phản ứng flehmen, một cái nhăn mặt đặc trưng khi đánh hơi dấu vết nước tiểu nhưng phản ứng flehmen thường tương quan đến con đực phát hiện những tín hiệu do hổ cái phát ra trong mùa động dục. Giống như những loài Panthera khác, hổ hoàn toàn có thể gầm lên, đặc biệt quan trọng là trong những trường hợp mà chúng đang hung hăng, trong mùa giao phối hoặc khi giết mồi. Có hai tiếng gầm khác nhau : tiếng gầm ” thật ” được tạo ra bằng cỗ máy hyoid và buộc phải mở miệng khi nó từ từ đóng lại, và tiếng gầm kiểu ” ho ” ngắn hơn, thô hơn được tạo ra bằng miệng mở và răng lộ ra. Tiếng gầm ” thật ” hoàn toàn có thể được nghe thấy ở cách xa tới 3 km ( 1,9 dặm ) và nhiều lúc được phát ra ba hoặc bốn lần liên tục. Khi căng thẳng mệt mỏi, hổ sẽ rên rỉ, một âm thanh tương tự như tiếng gầm nhưng trì trệ dần hơn và được tạo ra khi miệng bị đóng một phần hoặc trọn vẹn. Có thể nghe thấy tiếng rên cách xa 400 m ( 1.300 ft ). Tiếng khịt mũi mềm mịn và mượt mà, tần số thấp, khịt tương tự như như tiếng ríu rít ở những con mèo nhỏ hơn được nghe trong những trường hợp thân thiện hơn. Các kiểu tiếp xúc khác của hổ gồm có tiếng càu nhàu, âm trầm, tiếng gầm gừ, tiếng rên rỉ, tiếng rít và tiếng gầm rống .

Chế độ ăn[sửa|sửa mã nguồn]

Một con hổ đang gặm xương thịt, hổ có kiểu ăn một bên hàmTrong tự nhiên, hổ đa phần săn những động vật hoang dã có size lớn và trung bình, chúng đặc biệt quan trọng thích những động vật hoang dã móng guốc nặng tối thiểu 90 kg ( 200 lb ) thậm chí còn là cả gấu nâu, tê giác dù rất hiếm. Chúng thường không có tác động ảnh hưởng quá xấu đến quần thể con mồi. Nai, Hươu đốm, Hươu đầm lầy Ấn Độ, lợn rừng, bò tót, linh dương bò lam và cả trâu rừng lẫn trâu nhà là những con mồi chính của hổ ở Ấn Độ. Giống như nhiều loài săn mồi khác, hổ là loài săn mồi thời cơ và hoàn toàn có thể ăn những con mồi nhỏ hơn nhiều, ví dụ điển hình như khỉ, công và những loài chim trên mặt đất khác, thỏ đồng, nhím và cá. Chúng cũng hoàn toàn có thể săn bắt những động vật hoang dã ăn thịt khác, gồm có chó, báo hoa mai, trăn, gấu lợn và cá sấu. Mặc dù phần đông chỉ ăn thịt, hổ nhiều lúc sẽ ăn thực vật để lấy chất xơ như trái cây của cây vừng. Một con hổ trung bình hoàn toàn có thể ăn tới 27 kg một ngày và hoàn toàn có thể nhịn ăn khoảng chừng 2 hoặc 3 ngày. Răng nanh của hổ, hoàn toàn có thể dài tới 7,5 cm, dùng để gặm xương một cách thuận tiện [ 11 ] .Ở Siberia, những con mồi chính là nai Mãn Châu và lợn rừng ( hai loài này chiếm gần 80 % con mồi được hổ chọn ), tiếp theo là hươu sao, nai sừng tấm, hoẵng Siberia và hươu xạ. Gấu đen châu Á và gấu nâu Ussuri cũng hoàn toàn có thể trở thành con mồi của hổ, và chúng chiếm tới 40,7 % khẩu phần ăn của hổ Siberia tùy thuộc vào điều kiện kèm theo địa phương và quần thể gấu. Ở Sumatra, con mồi gồm có nai, mang, lợn rừng, lợn vòi và đười ươi. Trong khi săn nai, con mồi chiếm tới 60 % lượng thức ăn của chúng ở Ấn Độ, những con hổ đã giả tiếng kêu của những con nai đực để lôi cuốn chúng .
Hổ thường không săn bắt voi châu Á và tê giác Ấn Độ nhưng đã có những sự cố được báo cáo giải trình. Thường xuyên hơn, đó là những con non dễ bị tổn thương hơn hoàn toàn có thể bị hổ tiến công. Tuy nhiên, nhiều lúc tê giác trưởng thành thực tiễn đã trở thành nạn nhân của hổ, như đã được ghi nhận trong tối thiểu ba sự cố riêng không liên quan gì đến nhau. Hổ đã được báo cáo giải trình là tiến công và giết chết những con voi được thợ săn cưỡi trong khi săn hổ trong thế kỷ 19. Khi ở gần con người, hổ đôi lúc cũng sẽ săn những loài vật nuôi trong nhà như gia súc, ngựa và lừa. Những con hổ già hoặc bị thương, không hề bắt được con mồi hoang dã, hoàn toàn có thể trở thành những kẻ ăn thịt người ; quy mô này đã tái diễn tiếp tục trên khắp Ấn Độ. Một ngoại lệ là ở Sundarbans, nơi những con hổ khỏe mạnh thường tiến công ngư dân và dân làng đi tìm kiếm lâm sản, khiến con người từ đó tạo thành một phần nhỏ trong chính sách ăn của hổ .Hổ là loài ăn khỏe nhất trong họ nhà mèo và cũng là loài động vật hoang dã rất phàm ăn, chúng có nhu yếu tiêu thụ thức ăn hàng ngày rất lớn. Những ước tính cho thấy, trung bình mỗi năm, một con hổ cần săn được 50 con hươu hoặc lợn rừng để cung ứng đủ nguồn thực phẩm cho sự sống sót của chúng. Trong đó một con hổ có kích cỡ trung bình hoàn toàn có thể ăn tới 27 kg thịt mỗi bữa. Hổ Bengal hoàn toàn có thể ăn tới khoảng chừng 30 kg ( 66 lb ) thịt một ngày. Mặc dù rất phàm ăn, năng lực nhịn đói của hổ khá tốt. Một con hổ hoàn toàn có thể ăn tới 20 – 30 kg một ngày và hoàn toàn có thể nhịn ăn khoảng chừng vài ngày, ngoài những một con hổ trưởng thành hoàn toàn có thể đi long dong tới hai tuần mà không cần ăn, sau đó hoàn toàn có thể tiêu thụ đến 34 kg ( 75 lb ) thịt cùng một lúc. Trong điều kiện kèm theo nuôi nhốt, hổ trưởng thành được cho ăn 3 đến 6 kg ( 6,6 đến 13,2 lb ) thịt những loại như thịt lợn, thịt gà, thịt bò mỗi ngày ( nhiều vườn thú cho hổ ăn 5 kg thịt một ngày, trong đó, có 4 kg thịt bò bắp, hoặc thăn và 1 kg sườn lợn, nếu hổ đến quy trình tiến độ hổ trưởng thành thì hoàn toàn có thể cho ăn những loại đầu, chân, cánh gà ). Mỗi ngày, một con hổ trưởng thành hoàn toàn có thể ăn 10 kg thịt bò .

Phương pháp săn mồi và chiến đấu[sửa|sửa mã nguồn]

Một con hổ đang rượt vồ một con hươuTrong tự nhiên, hổ là loài động vật hoang dã thuộc nhóm động vật hoang dã ăn thịt đầu bảng, với thân thể to lớn, tính hung hãn dữ tợn, bộ lông vằn vện, hàm răng khỏe, móng vuốt nguy hại, sức mạnh, bản lĩnh, tính kiên trì và vận tốc chạy khá tốt ( cao nhất lên đến 65 km / h ) nên hổ được ca tụng là chúa sơn lâm và ít khi có quân địch tự nhiên. Những con hổ được cho là đa phần là động vật hoang dã săn mồi về đêm, nhưng ở những khu vực mà con người không hiện hữu, những thiết bị điều khiển và tinh chỉnh từ xa và bẫy camera đã ghi lại cảnh chúng săn mồi vào ban ngày. Hổ săn mồi theo kiểu rình và vồ, tương khắc và chế ngự con mồi của chúng từ mọi góc, thường thì từ những cuộc tập kích và giật mình cắn vào cổ, thường thì là để làm gãy cột sống hay khí quản của con mồi, hay làm tổn thương tĩnh mạch hoặc động mạch chủ. Là một con thú lượn lờ bơi lội giỏi, hổ có năng lực giết chết con mồi ngay cả khi chúng đang bơi. [ 12 ] Một số con hổ thậm chí còn phục kích cả những con thuyền để bắt người hay cá của họ .
Răng nanh của hổ ( ở trên ) và gấu đen châu Á ( bên dưới ). Những chiếc răng nanh lớn của hổ giúp những cú cắn của chúng trở nên uy lực và dùng để xé thịt con mồi .Hổ săn mồi thích nơi có lùm cây để ẩn nấp, tiến công giật mình, nhưng khi đùa giỡn, hành hạ con mồi thì nó tìm nơi đất trống [ 13 ] Khi săn mồi, hổ tiếp cận con mồi một cách rón rén, tận dụng những thân cây, bụi rậm, mỏm đá để ẩn mình và hiếm khi chúng rượt đuổi con mồi từ xa. Chúng vận động và di chuyển một cách thận trọng và nhẹ nhàng không gây ra tiếng động, ép sát thân xuống đất để con mồi khó phát hiện được. Khi áp sát con mồi thì hổ khống chế con mồi từ mọi góc nhìn, trong đó có hai chiêu thức chính là tiến công từ đằng sau và cắn vào cổ để làm gãy cột sống hoặc cắn vào khí quản của con mồi, hoặc làm tổn thương tĩnh mạch, động mạch cảnh. Đối với những loài thú nhỏ, cân nặng chưa bằng 50% khối lượng khung hình của con hổ, thì chúng giết con mồi bằng cách cắn vào gáy, chúng sẽ dùng răng nanh kẹp chặt đốt xương cổ, dùng sức mạnh của hàm bẻ gãy xương cổ, tách chúng ra khỏi tủy sống. Đối với những con mồi lớn hơn, chúng thường cắn vào cổ họng và sử dụng chân trước can đảm và mạnh mẽ của chúng để giữ chặt con mồi, thường đồng thời vật lộn nó xuống đất. Hổ vẫn cắn chặt cổ con mồi cho đến khi tiềm năng của chúng chết vì bị không thở được. Bằng chiêu thức này, bò tót và trâu nước nặng hơn một tấn đã bị giết bởi những con hổ nặng chỉ bằng một phần sáu khối lượng của chúng. Mặc dù hổ hoàn toàn có thể giết chết những con trưởng thành khỏe mạnh, nhưng hổ thường chọn những con bê hoặc con non của những loài có size rất lớn. Những con mồi trưởng thành khỏe mạnh như bò tót, voi, tê giác hoàn toàn có thể nguy khốn cho chúng để hoàn toàn có thể xử lý ; vì sừng, chân và ngà dài, mạnh đều có năng lực gây tử trận cho hổ. Không có loài săn mồi nào lại tiếp tục tự mình bắt những con mồi lớn như vậy. Tỷ lệ săn mồi thành công xuất sắc của hổ không cao, trung bình 20 lần đi săn mới được một lần thành công xuất sắc .Sau khi giết chết con mồi, đôi lúc hổ kéo mồi đi để che giấu nó trong lớp phủ thực vật, thường kéo nó bằng cách lấy miệng của chúng ngậm tại vị trí của vết cắn. Điều này cũng hoàn toàn có thể yên cầu sức mạnh sức khỏe thể chất tuyệt vời. Trong một trường hợp, sau khi một con hổ giết chết một con bò tót trưởng thành, nó đã được quan sát để kéo xác con mồi khổng lồ trên một khoảng cách 12 m ( 39 ft ). Khi 13 người đàn ông đồng thời nỗ lực kéo cùng một con vật xấu số này sau đó, họ đã không hề chuyển dời được nó .Đối với việc tiến công con người, hổ không liên tục xâm nhập vào khu định cư của con người mà thường chọn giải pháp phục kích [ 14 ] [ 15 ] Hổ là loài cực kỳ ranh mãnh, có khi nó nằm lỳ giả chết cả ngày. Đối với những con hổ còn non thì chúng lại hung hăng, liều lĩnh hơn, sẵn sàng chuẩn bị săn mồi bất kể khi nào, kể cả vào ban ngày nhưng trái ngược lại, những con hổ lớn lại tỏ ra đặc biệt quan trọng tinh ranh, ban ngày, chúng nằm im bất động, chờ đến tối mới khởi đầu cuộc săn mồi. Những con mồi mà hổ chọn thường được theo dõi rất kỹ. Sau khi đã xác lập được tiềm năng, với một cú vồ nhanh như chớp, con mồi đã bị hạ gục mà không kịp kêu lên tiếng nào. Tuy nhiên, nếu bị con mồi phát hiện ra trước, hổ thường sẽ từ bỏ cuộc săn thay vì đuổi theo con mồi hoặc chiến đấu với nó. [ 16 ]
Tiger attacking a sambar in Ranthambore Hổ Bengal tiến công một con nai ở khu bảo tồn hổ RanthamboreThông thường những con hổ cái khi chọn tiến công con người thường tập kích một cách lén lút nhất là khi con người đang cúi xuống thao tác hoặc khi đang cắt cỏ, nhưng hoàn toàn có thể nó sẽ thôi dự tính này khi một người đã đứng thẳng. Hổ thường tiến công giật mình nạn nhân từ phía bên hoặc từ phía sau hoặc là tiếp cận hướng gió hoặc nằm trong chờ đón theo hướng gió. [ 17 ] nó sẽ tiến công người khi đơn độc, nó rất kiên trì để chờ đón điều này qua quy trình rình rập và đeo đuổi dai dẵng [ 18 ] Thông thường hổ sẽ tiến công giật mình từ đằng sau, nếu con người bỏ chạy nó sẽ đuổi theo vồ, hổ luôn luôn có những cú vồ đầy chết chóc. [ 19 ] Khi con người chống lại và đương đầu, nó sẽ gườm và thủ thế, lấy đà chụp mồi, nếu nó đập đuôi bên phải, sẽ phóng về bên trái, và ngược lại, vồ thẳng thì đuôi duỗi thẳng, [ 20 ] khi hổ tiến công tiềm năng, chúng sẽ vọt tới vồ đối thủ cạnh tranh hoặc vụt dậy tát mạnh bằng bàn chân trước, hổ sẽ thực thi một cú tát, cú tát của hổ hoàn toàn có thể hổ sẽ khiến cổ trâu, bò phải gãy, trẹo đi, hoặc làm vỡ sọ của một con gia súc, gãy sống lưng của một con gấu lười hay thuận tiện lấy mạng của một con sói lửa. Thường trước khi hổ tiến công, nó sẽ khom người xuống lấy tấn định phi tới, khi vồ hụt, chúng sẽ dừng ít giây chuẩn bị sẵn sàng cho một cú vồ khác .Khi giao đấu với người có mang theo vũ khí thì hổ luôn muốn đoạt vũ khí của người rồi mới dùng chân tát một cú chí mạng hay vồ đến cắn xé. Lúc muốn đoạt vũ khí, chúng sẽ giương vuốt và chồm lên, [ 21 ] hổ thường tiến công theo kiểu lao lên không trung rồi phóng xuống chụp mồi, nên nó rất sợ có vật nhọn giương lên trời. [ 22 ] [ 23 ] Trong khi chiến đấu hổ còn có một tuyệt chiêu mà giới võ học gọi là thế trâu vằng với việc con hổ khi chiến đầu thường nằm ngửa, chổng bốn chân lên trời để thế để lừa giết con mồi, nếu con người sơ ý nhảy vào tiến công là sẽ bị tiến công bằng một đòn chí mạng [ 24 ] Hổ còn bạo gan dám tiến công cả con người khi đang cưỡi voi. Mặc dù con hổ thường tránh voi, nhưng nó hoàn toàn có thể nhảy vọt và phóc lên sống lưng voi để tiến công người quản tượng cưỡi trên sống lưng voi. [ 25 ] Hổ còn là mãnh thú hoang dã nguy hại nhất so với những con vật khác cũng như với con người, một con hổ hoàn toàn có thể tiến công, giết chết 3-4 người đang sức người trẻ tuổi như thường .

Thiên địch cạnh tranh đối đầu[sửa|sửa mã nguồn]

Một bức tranh minh họa cảnh hổ bị đàn sói đỏ tiến côngNhững con hổ thường thích ăn con mồi mà chúng tự bắt được, nhưng chúng cũng không bỏ lỡ việc ăn xác thối trong những lúc khan hiếm thức ăn và thậm chí còn hoàn toàn có thể cướp con mồi từ những động vật hoang dã ăn thịt lớn khác. Mặc dù những động vật hoang dã ăn thịt thường tránh nhau, nhưng nếu một con mồi bị tranh chấp hoặc gặp phải đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu nghiêm trọng, việc biểu lộ sự gây hấn là phổ cập ở hổ. Nếu những điều này là không đủ, những xung đột hoàn toàn có thể trở nên đấm đá bạo lực ; hổ hoàn toàn có thể giết chết những đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu như báo hoa mai, sói đỏ, linh cẩu vằn, chó sói, gấu, trăn và cá sấu. Hổ cũng hoàn toàn có thể giết và ăn thịt những đối thủ cạnh tranh này. Tấn công vào những kẻ săn mồi nhỏ hơn, ví dụ điển hình như lửng, linh miêu và cáo, gần như là chắc như đinh là vì mục tiêu săn mồi. Trong khi đó, cá sấu, gấu và bầy sói đỏ có số lượng lớn hoàn toàn có thể thắng lợi trong những cuộc xung đột với hổ và trong 1 số ít trường hợp thậm chí còn giết chúng .Báo hoa mai thường tránh sự cạnh tranh đối đầu với hổ bằng cách săn mồi vào những thời gian khác nhau trong ngày và săn những con mồi khác nhau. Trong Công viên vương quốc Nagarhole của Ấn Độ, hầu hết những con mồi được báo lựa chọn là từ 30 đến 175 kg ( 66 đến 386 lb ) so với sở trường thích nghi con mồi nặng hơn 176 kg ( 388 lb ) của những con hổ. Trọng lượng con mồi trung bình ở hai con mèo lớn tương ứng ở Ấn Độ là 37,6 kg ( 83 lb ) so với 91,5 kg ( 202 lb ). Với con mồi tương đối dồi dào, hổ và báo được nhìn thấy cùng sống sót thành công xuất sắc mà không có sự loại trừ cạnh tranh đối đầu hoặc phân cấp thống trị giữa những loài hoàn toàn có thể phổ cập hơn so với đồng cỏ châu Phi, nơi con báo sống sót cùng với sư tử. Chó rừng vàng hoàn toàn có thể là con mồi không tiếp tục khác của hổ. Những con hổ có vẻ như cư trú ở những phần sâu của một khu rừng trong khi những kẻ săn mồi nhỏ hơn như báo và sói đỏ được đẩy lại gần rìa .

Sinh sản và vòng đời[sửa|sửa mã nguồn]

Hai con hổ cái ( bên trái ) và hổ đực ( bên phải ), hổ cái có tầm vóc nhỏ hơn hổ đực nhưng đanh đá hơn, hổ đực to lớn nhưng tỉnh bơ hơn và chúng thường tỏ ra dịu dàng êm ả với con cái trong thời kỳ trăng mật Hổ đực và hổ cái Hai con hổ con đang chơi bóng tại vườn thú FrankfurtHổ là loài độc cư, chỉ đến thời kỳ giao phối chúng mới đến sống cùng nhau. Thông thường những hổ đực có tính trăng hoa, còn những con hổ cái thì lại khá chung tình nhưng rất kén chọn trong việc lựa chọn bạn tình. Độ tuổi phát dục của loài hổ tương đối giống nhau. Hổ cái khoảng chừng 3 tuổi rưỡi, còn hổ đực thì muộn hơn. Thời kỳ động dục của hổ diễn ra từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Trong thời hạn này, tiếng gầm của hổ rất vang, hoàn toàn có thể đạt đến 2 km, xa hơn thông thường gấp nhiều lần để hoàn toàn có thể điệu đàng bạn tình. Một con hổ 3 tuổi hoàn toàn có thể giao phối và sinh sản, hổ cái mang thai khoảng chừng 102 – 106 ngày. Mỗi lứa sinh khoảng chừng từ 2-4 con, hổ con mới sinh nặng từ 780 đến 1.600 g ( 1,72 đến 3,53 lb ) .Khả năng tử trận của hổ con khi chào đời tương đối cao, khi sinh hổ con không hề nhìn. Chúng mở mắt khi được sáu đến 14 ngày tuổi. Răng sữa của chúng cải tiến vượt bậc ở tuổi khoảng chừng hai tuần. Chúng mở màn ăn thịt ở tuổi tám tuần. Vào khoảng chừng thời hạn này, con cháu thường chuyển chúng sang một nơi mới. Chúng hoàn toàn có thể triển khai những cuộc đi săn ngắn với mẹ của chúng, mặc dầu chúng không đi với con cái khi nó đi long dong cho đến khi chúng lớn lên. Giới khoa học tin rằng những đốm trắng ở mặt sau của tai hổ là tín hiệu hướng dẫn để hổ con hoàn toàn có thể bám theo mẹ. Con cái cho con bú trong năm đến sáu tháng. Trong khoảng chừng thời hạn chúng được cai sữa, chúng khởi đầu đi cùng mẹ trên những chuyến đi trong chủ quyền lãnh thổ và được dạy cách săn mồi .Một con non chiếm lợi thế Open ở hầu hết những lứa, thường là con đực. Đàn con chiếm lợi thế hơn so với anh chị em của nó và đứng vị trí số 1 trong game show của chúng, sau cuối rời khỏi mẹ và trở nên độc lập sớm hơn. Các con hổ con mở màn tự săn mồi sớm nhất ở tuổi 11 tháng và trở nên độc lập vào thời gian 18 đến 20 tháng tuổi. Chúng tách khỏi mẹ khi được hai đến hai tuổi rưỡi, nhưng vẫn liên tục tăng trưởng cho đến năm tuổi. Con cái đạt đến độ chín về tình dục ở ba đến bốn năm, trong khi con đực ở bốn đến năm tuổi. Những con hổ đực long dong không tương quan thường giết chết đàn con để khiến con cháu dễ tiếp đón, vì hổ cái hoàn toàn có thể sinh ra một lứa khác trong vòng năm tháng nếu những con của lứa trước bị mất. Tỷ lệ tử trận của hổ con là khoảng chừng 50 % trong hai năm đầu. Rất ít loài săn mồi khác dám tiến công đàn hổ con do sự tận tâm và hung tàn của hổ mẹ. Ngoài con người và những con hổ khác, nguyên do phổ cập gây tử trận của đàn con là chết đói, ngừng hoạt động và những tai nạn thương tâm .Quá trình làm quen và cặp đôi bạn trẻ của hổ phức tạp và lâu. Trong suốt mấy tháng ròng, những con hổ đực phải long dong khắp nơi để tìm cho được người bạn tình. Một hổ cái hoàn toàn có thể có đến 4-5 hổ đực theo đuổi, do đó trong tự nhiên thường xảy ra những trận huyết chiến giữa những con hổ đực là đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu giành hổ cái và con hổ nào thực sự đủ mạnh để thắng lợi những đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu mới giành quyền giao phối với con cái, nhiều con hổ đực hoàn toàn có thể bị thương nặng hoặc tử trận. Đây chỉ là một phần của đại chiến vì kẻ thắng lợi vẫn hoàn toàn có thể bị phủ nhận bằng những phản ứng rất kinh hoàng từ con hổ cái vì chưa vừa lòng. Để chiều lòng hổ cái, những con hổ đực còn phải săn mồi đem về cho con hổ cái ăn. Khi hai con hổ gặp nhau, rồi lại tách ra. Nếu hổ cái vẫn ẩm thực ăn uống, vui đùa, không có biểu lộ gì xảy ra, thì coi như nó không thích con hổ đực đó, còn nếu nó ngẩn ngơ, lầm lì, thậm chí còn bỏ ăn, thì đó là bộc lộ sự quyến luyến con hổ đực còn khi hổ cái lên cơn động dục, thì hổ đực cũng sẽ cảm thấy rất bức xúc, chúng gầm gừ kinh hoàng, đi loại loanh quanh và thòi hẳn dương vật hổ ra ngoài. [ 26 ]Các con hổ cai khi động dục thường phát ra tiếng kêu hưng phấn, dữ thế chủ động tiếp cận hổ đực. Các cặp tình nhân hổ cũng không khi nào hấp tấp vội vàng. Trước khi làm tình, hổ đực và hổ cái khi nào cũng có thói quen ngửi mùi của nhau, chúng phì phò gạ gẫm nhau. Sau khi hổ cái dụi má, cọ mông vào bạn tình, khi cơn động đực diễn ra thì con hổ cái đi tiểu bắn ra một thứ nước trắng đục như nước vo gạo và ngồi úp bụng xuống. Sau đó, hổ đực mới từ từ đi ra phía sau hổ cái và cuộc làm tình khởi đầu, hổ đực phi lên sống lưng, ngoạm vào gá, co chân và giao phối. Hổ cái thường có thói quen phát ra tiếng kêu hưng phấn và kích động trong khi đang ân ái với bất kỳ chú hổ đực nào. Còn hổ đực lại có thói quen cắn nhẹ vào phần đầu và gáy của hổ cái, sau đó dù con hổ đực dũng mãnh nhất cũng ngay lập tức phải thối lui sau khi lần giao phối kết thúc vì con hổ cái rất dữ dằn. [ 26 ]

Thông thường thì các cặp hổ thường làm tình với nhau vào buổi sáng sớm trong lành và yên tĩnh. Mỗi ngày, chúng gặp khoảng 2-3 lần, mỗi lần cách nhau khoảng 15 phút, cuộc tình giữa một cặp hổ kéo dài trong khoảng 3-5 ngày, cuộc giao phối giữa một cặp hổ kéo dài không quá một phút. Tổng cộng, mỗi ngày, 24 giờ, chúng quan hệ khoảng 30 lần trong 2 tiếng chúng chỉ quan hệ được với nhau 5-7 lần. Có thể thấy, loài hổ chưa bao giờ là loài vật mạnh mẽ trong chuyện sinh lý chúng chỉ giỏi nanh sắc vuốt nhọn, không hề có thế mạnh trong quan hệ[cần dẫn nguồn] và trên phương diện này chúng thua xa sư tử.

Sau thời hạn này, nếu hổ cái có bộc lộ gầm ghè đuổi con hổ đực đi thì có nghĩa là nó đã đậu thai và có mang. [ 26 ] Hổ cái 1-2 năm mới sinh nở một lần, mỗi lần mang thai lê dài 105 ngày, mỗi lần mang thai từ 1/5 hổ con, thường thì thì chỉ có hai con. Hổ mẹ chịu nghĩa vụ và trách nhiệm nuôi nấng hổ con cho đến khi hổ con trưởng thành, thường thì khoảng chừng thời hạn này là 3 năm. Hổ đực sau cuộc tình thường quay trở lại với lãnh địa của mình và tìm kiếm một con hổ cái mới. Cũng có trường hợp người ta thấy hổ đực cùng vợ và những con sống cùng nhau thành một mái ấm gia đình hổ. Tuy nhiên, trường hợp này rất hiếm. Hổ thường thì chỉ sống khoảng chừng từ 10-15 năm trong thiên nhiên và môi trường hoang dã. Trong điều kiện kèm theo nuôi nhốt, chúng hoàn toàn có thể sống đến 20 năm. Con hổ bị nuôi nhốt sống thọ nhất được ghi nhận là 26 năm .
Vào những năm 1990, một cách tiếp cận mới về bảo tồn hổ đã được tăng trưởng : Các đơn vị chức năng bảo tồn hổ ( TCU ), là những môi trường tự nhiên sống có năng lực bảo tồn quần thể hổ trong 15 loại môi trường tự nhiên sống trong năm vùng sinh học. Tổng cộng 143 TCU đã được xác lập và ưu tiên dựa trên kích cỡ và tính toàn vẹn của thiên nhiên và môi trường sống, áp lực đè nén săn trộm và thực trạng dân số. Chúng có size từ 33 đến 155.829 km2 ( 13 đến 60.166 dặm vuông ) .Năm năm nay, một ước tính về quần thể hổ hoang dã toàn thế giới với khoảng chừng 3.890 thành viên đã được trình diễn trong Hội nghị Bộ trưởng Châu Á Thái Bình Dương lần thứ ba về Bảo tồn hổ. WWF sau đó công bố rằng số lượng hổ hoang dã trên thế giới đã tăng lần tiên phong trong một thế kỷ .Các mối rình rập đe dọa chính so với hổ gồm có hủy hoại thiên nhiên và môi trường sống, phân mảnh môi trường tự nhiên sống và săn trộm lông và những bộ phận khung hình, đồng thời đã làm giảm đáng kể quần thể hổ trong tự nhiên. Ở Ấn Độ, chỉ có 11 % thiên nhiên và môi trường sống của hổ lịch sử vẻ vang còn lại do sự phân mảnh môi trường tự nhiên sống. Nhu cầu về những bộ phận của hổ để sử dụng trong y học truyền thống Trung Quốc cũng được coi là mối rình rập đe dọa chính so với quần thể hổ. Vào đầu thế kỷ 20, người ta ước tính có hơn 100.000 con hổ trong tự nhiên, nhưng số lượng đã giảm dần bên cạnh những thành viên bị nhốt từ 1.500 đến 3.500 con. Một số ước tính cho thấy rằng có ít hơn 2.500 thành viên nhân giống trưởng thành, không có quần thể phụ có chứa hơn 250 thành viên trưởng thành. Quần thể hổ hoang dã toàn thế giới được Quỹ Thiên nhiên Thế giới ước tính là 3.200 vào năm 2011 và 3.890 trong năm năm ngoái, Vox đã báo cáo giải trình rằng đây là lần tăng tiên phong trong một thế kỷ .
Một con hổ cái ở khu bảo tồn hổ Tadora Andhari

Ấn Độ là nơi có quần thể hổ hoang dã lớn nhất thế giới. Một cuộc điều tra năm 2014 ước tính quần thể có 2.226 con, tăng 30% kể từ năm 2011. Năm 1973, Dự án Hổ của Ấn Độ, do cố thủ tướng Indira Gandhi khởi xướng, đã thành lập nhiều khu bảo tồn hổ. Dự án được cho là đã tăng gấp ba số lượng hổ hoang dã từ khoảng 1.200 vào năm 1973 đến hơn 3.500 vào những năm 1990, nhưng một cuộc điều tra dân số năm 2007 cho thấy số lượng đã giảm xuống còn khoảng 1.400 con hổ vì bị săn trộm. Sau báo cáo, chính phủ Ấn Độ đã cam kết 153 triệu đô la cho sáng kiến ​​này, thiết lập các biện pháp chống săn trộm, hứa sẽ tài trợ cho 200.000 dân làng để giảm tương tác giữa người và hổ, và thiết lập tám khu bảo tồn hổ mới. Ấn Độ cũng du nhập hổ vào Khu bảo tồn hổ Sariska và đến năm 2009, người ta cho rằng nạn săn trộm đã bị ngăn ngừa hiệu quả tại Công viên quốc gia Ranthambore.

Bẫy camera hiển thị một con hổ SumatraVào những năm 1940, hổ Siberia đang trên bờ vực tuyệt chủng với chỉ khoảng chừng 40 thành viên còn lại trong tự nhiên ở Nga. Do đó, những giải pháp trấn áp chống săn trộm đã được Liên Xô vận dụng và một mạng lưới những khu vực được bảo vệ ( zapondniks ) đã được thiết lập, dẫn đến quần thể tăng lên hàng trăm con. Việc săn trộm một lần nữa trở thành một yếu tố vào những năm 1990, khi nền kinh tế tài chính Nga sụp đổ. Trở ngại chính trong việc bảo tồn những loài là chủ quyền lãnh thổ khổng lồ mà hổ nhu yếu ( tối đa 450 km2 thiết yếu cho một con cháu và nhiều hơn thế nữa cho một con đực ). Những nỗ lực bảo tồn hiện tại được chỉ huy bởi chính quyền sở tại địa phương và tổ chức triển khai phi chính phủ phối hợp với những tổ chức triển khai quốc tế, như Quỹ bảo vệ vạn vật thiên nhiên thế giới và Thương Hội bảo tồn động vật hoang dã hoang dã. Việc loại trừ cạnh tranh đối đầu của những con sói bởi những con hổ đã được những nhà bảo tồn Nga sử dụng để thuyết phục những người thợ săn chịu đựng những con mèo lớn. Những con hổ có tác động ảnh hưởng ít hơn đến quần thể móng guốc so với những con sói và có hiệu suất cao trong việc trấn áp số lượng sau này. Vào năm 2005, người ta đã nghĩ rằng có khoảng chừng 360 con hổ ở Nga, mặc dầu chúng có rất ít sự phong phú di truyền. Tuy nhiên, trong một thập kỷ sau đó, tìm hiểu dân số về hổ Siberia được ước tính từ 480 đến 540 thành viên .Trước đó đã khước từ trào lưu bảo vệ thiên nhiên và môi trường do phương Tây chỉ huy, Trung Quốc đã biến hóa lập trường vào những năm 1980 và trở thành một thành viên của hiệp ước CITES. Đến năm 1993, nước này đã cấm kinh doanh những bộ phận của hổ và điều này đã làm giảm việc sử dụng xương hổ trong y học truyền thống Trung Quốc. Người dân Tây Tạng kinh doanh da hổ cũng là một mối rình rập đe dọa so với hổ. Những chiếc áo lót được sử dụng trong quần áo, áo chuba làm bằng da hổ được mặc như thời trang. Vào năm 2006, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã bị thuyết phục để đưa ra yếu tố. Kể từ đó, đã có một sự đổi khác về thái độ, với 1 số ít người Tây Tạng công khai minh bạch đốt chubas của họ .Năm 1994, Chiến lược bảo tồn hổ Sumatra của Indonesia đã xử lý cuộc khủng hoảng cục bộ tiềm tàng mà hổ phải đương đầu ở Sumatra. Dự án hổ Sumatra ( STP ) được khởi xướng vào tháng 6 năm 1995 tại và xung quanh Vườn quốc gia Way Kambas để bảo vệ năng lực sống sót vĩnh viễn của hổ Sumatra hoang dã và tích góp tài liệu về đặc thù lịch sử vẻ vang của hổ trong việc quản trị những quần thể hoang dã. Đến tháng 8 năm 1999, những đội của STP đã nhìn nhận 52 khu vực sinh sống của loài hổ tiềm năng ở tỉnh Lampung, trong đó chỉ có 15 khu vực này còn nguyên vẹn để bảo tồn hổ. Trong khuôn khổ của STP, một chương trình bảo tồn dựa vào hội đồng đã được triển khai để ghi lại dân số con người trong vườn vương quốc nhằm mục đích được cho phép những cơ quan bảo tồn xử lý xung đột giữa người và hổ dựa trên cơ sở tài liệu tổng lực thay vì giai thoại và quan điểm .Thương Hội bảo tồn động vật hoang dã hoang dã và tập đoàn lớn Panthera đã xây dựng sự hợp tác của Tigerers Forever, với những khu vực thực địa gồm có khu bảo tồn hổ lớn nhất thế giới, Thung lũng Hukaung 21.756 km2 ( 8.400 dặm vuông ) ở Myanmar. Các khu bảo tồn khác nằm ở Ghats Tây ở Ấn Độ, Xứ sở nụ cười Thái Lan, Lào, Campuchia, Viễn Đông của Nga có tổng diện tích quy hoạnh khoảng chừng 260.000 km2 ( 100.000 dặm vuông ) .Hổ đã được nghiên cứu và điều tra trong tự nhiên bằng nhiều kỹ thuật. Sô lượng hổ đã được ước tính bằng cách sử dụng phôi thạch cao của dấu chân của chúng, mặc dầu giải pháp này bị chỉ trích là không đúng mực. Các kỹ thuật gần đây hơn gồm có việc sử dụng bẫy camera và nghiên cứu và điều tra DNA từ phân hổ, trong khi việc đeo vòng vô tuyến đã được sử dụng để theo dõi hổ trong tự nhiên. Mùi nước tiểu của chúng đã được nhìn nhận là tốt hơn, là một nguồn DNA khả thi hơn so với phân .Số lượng đúng mực của hổ hoang dã là không rõ, vì nhiều ước tính là lỗi thời hoặc những cách đoán giáo dục ; một vài ước tính dựa trên những cuộc tìm hiểu khoa học đáng an toàn và đáng tin cậy. Bảng này cho thấy những ước tính theo thông tin tài khoản Sách đỏ IUCN và những cơ quan chính phủ khoanh vùng phạm vi vương quốc có từ năm 2009 đến tháng 4 năm năm nay .

Dự án tái gia nhập[sửa|sửa mã nguồn]

Năm 1978, nhà bảo tồn người Ấn Độ Billy Arjan Singh đã cố gắng nỗ lực thả một con hổ vào Công viên Quốc gia Dudhwa ; đây là con hổ cái được nuôi nhốt tên Tara. Ngay sau khi con hổ được phóng thích, nhiều người đã bị giết và ăn thịt bởi một con hổ sau đó bị bắn. Các quan chức cơ quan chính phủ công bố đó là Tara, mặc dầu Singh đã tranh luận điều này. Tranh cãi thêm đã nổ ra với việc phát hiện ra Tara là một phần của hổ Siberia .

Tổ chức “Cứu hổ Trung Quốc” đã cố gắng tái tạo những con hổ Hoa Nam, với một chương trình nhân giống và huấn luyện tại một khu bảo tồn Nam Phi được gọi là Khu bảo tồn Thung lũng Lão hổ (LVR) và cuối cùng giới thiệu chúng trở lại vùng hoang dã của Trung Quốc.

Một dự án Bất Động Sản kiến thiết xây dựng lại trong tương lai đã được yêu cầu cho những con hổ Siberia được thiết lập lại cho khu vui chơi giải trí công viên Pleistocene phía bắc nước Nga. Những con hổ Siberia được gửi đến Iran cho một dự án Bất Động Sản nuôi nhốt ở Tehran được thiết lập để tái tạo và gia nhập lại trên bán đảo Miankaleh, để thay thế sửa chữa những con hổ Ba Tư đã tuyệt chủng .

Quan hệ với con người[sửa|sửa mã nguồn]

Tấn công con người[sửa|sửa mã nguồn]

Hổ vồ người hay hổ vồ chết người, hổ cắn chết người, hổ ăn thịt người là thuật ngữ chỉ những vụ hổ tấn công con người với nhiều nguyên nhân và các trường hợp khác nhau. Đây là một hình thức cực đoan và cực điểm của việc xung đột giữa con người và động vật hoang dã. Việc hổ tấn công người đã được ghi nhận từ lâu trong lịch sử đặc biệt là đối với các nước châu Á nơi phân bố của loài hổ. Nhiều sự kiện đã đi vào văn hóa dân gian của các nước như một nỗi ám ảnh khiếp đảm đến mức nhiều vùng miền có tục thờ hổ vì sợ bị hổ dữ làm hại. Ngày nay, nhiều vụ việc hổ tấn công con người do những sự cố, tai nạn xảy ra trong các vườn thú, rạp xiếc gây ra những vụ việc nổi cộm gây kinh hoàng trong dư luận. Do là loài động vật có bản tính hung dữ, hổ không thể bị thuần hóa mà chỉ có thể nuôi nhốt và huấn luyện.[28]

Bức ảnh lập thể ( 1903 ), có tên là ” Kẻ ăn thịt người nổi tiếng ‘ ở Calcutta — chịu nghĩa vụ và trách nhiệm cho cái chết của 200 người gồm có cả đàn ông, phụ nữ và trẻ nhỏ, sau khi bị bắtNhững thống kê cho thấy hổ là con vật tiến công và gây thiệt mạng cho loài người nhiều hơn bất kể loài mèo lớn nào khác. Người ta ước tính rằng tối thiểu đã có 373.000 người bị thiệt mạng do hổ vồ từ quy trình tiến độ năm 1800 đến năm 2009. [ 29 ] Phần lớn những cuộc tiến công xảy ra ở Nam Á và Khu vực Đông Nam Á, ở Khu vực Đông Nam Á, những cuộc tiến công giảm dần sau khi đạt đỉnh trong thế kỷ XIX, nhưng những cuộc tiến công ở Nam Á vẫn ở mức cao, đặc biệt quan trọng là ở Sundarbans, tại đây hàng năm những con hổ đã vồ và giết chết khoảng chừng 50 đến 250 người. [ 30 ] [ 31 ] Chỉ tính riêng giữa năm 1876 và năm 1912, những con hổ giết chết 33.247 người ở Ấn Độ lúc này là thuộc địa của Anh. [ 32 ] Các cuộc tiến công xảy ra do hổ bị kích động, vì hổ chắc như đinh tiến công sau khi chúng bị thương trong khi chính chúng bị săn đuổi. Ngoài ra, những cuộc tiến công nhiều lúc hoàn toàn có thể do con người vô tình kích động chúng, vì khi con người làm giật mình hổ hoặc vô tình Open giữa mẹ và con của chúng. Thỉnh thoảng hổ xem con người là con mồi. Những cuộc tiến công như vậy là thông dụng nhất ở những khu vực có sự ngày càng tăng dân số, khai thác gỗ và nuôi trồng đã gây áp lực đè nén lên môi trường tự nhiên sống của hổ và làm giảm con mồi hoang dã của chúng .Hầu hết những con hổ ăn thịt người đều già, mất răng và không hề bắt được con mồi ưa thích của chúng. Ví dụ, con hổ cái Champawat, một con hổ được tìm thấy ở Nepal và sau đó là Ấn Độ, có hai chiếc răng nanh bị gãy. Nó chịu nghĩa vụ và trách nhiệm cho khoảng chừng 430 người chết, vụ tiến công được biết đến nhiều nhất bởi một động vật hoang dã hoang dã, vào thời gian nó bị bắn vào năm 1907 bởi thợ săn Jim Corbett. Theo Corbett, hổ tiến công con người là thông thường vào ban ngày, khi mọi người đang bận thao tác ngoài trời và không cẩn trọng đề phòng. Những bài viết bắt đầu của Corbett có khuynh hướng miêu tả những con hổ ăn thịt người là hèn nhát vì giải pháp phục kích của chúng. Hổ ăn thịt người là một yếu tố đặc biệt quan trọng trong những thập kỷ gần đây ở Ấn Độ và Bangladesh, đặc biệt quan trọng là ở Kumaon, Garhwal và vùng đầm lầy ngập mặn Sundarbans ở Bengal, nơi một số ít con hổ khỏe mạnh đã săn lùng con người .Do mất thiên nhiên và môi trường sống nhanh gọn do đổi khác khí hậu, những cuộc tiến công của hổ đã ngày càng tăng ở Sundarbans. Khu vực Sundarbans có 129 người chết vì hổ từ năm 1969 đến 1971. Trong 10 năm trước thời kỳ đó, khoảng chừng 100 vụ tiến công mỗi năm ở Sundarbans, với mức cao khoảng chừng 430 trong một số ít năm của thập niên 1960. Bất thường, trong một số ít năm ở Sundarbans, nhiều người bị hổ giết hơn là ngược lại. Năm 1972, sản lượng mật ong và sáp ong của Ấn Độ đã giảm 50 % khi tối thiểu 29 người tích lũy những nguyên vật liệu này bị hổ ăn thịt. Vào năm 1986 tại Sundarbans, vì hổ phần nhiều luôn tiến công từ phía sau, mặt nạ xuất hiện người được đeo sau gáy, theo triết lý rằng hổ thường không tiến công nếu bị con mồi nhìn thấy. Điều này làm giảm số lượng những cuộc tiến công chỉ trong thời điểm tạm thời. Tất cả những phương tiện đi lại khác để ngăn ngừa những cuộc tiến công, ví dụ điển hình như cung ứng thêm con mồi hoặc sử dụng người giả điện khí hóa, hoạt động giải trí kém hiệu suất cao .

Năm 2018, chính quyền Ấn Độ đã sử dụng nước hoa Obsession của Calvin Klein, có chứa xạ hương, để cố gắng thu hút và do đó bẫy một con hổ hoang dã, được gọi là ‘T-1’, trước đó đã tấn công và giết chết hơn một chục người. Cuối cùng, con hổ đã bị giết để tự vệ, sau khi vẫn hung hăng tấn công những người đang cố gắng trấn an nó. Ít nhất 27 người đã bị giết hoặc bị thương nặng bởi những con hổ bị nuôi nhốt ở Hoa Kỳ từ năm 1998 đến 2001. Trong một số trường hợp, thay vì săn mồi, hổ tấn công con người dường như là để bảo vệ lãnh thổ trong tự nhiên. Ít nhất trong một trường hợp, một con hổ cái với đàn con của nó đã giết chết tám người vào lãnh thổ của mình mà không hề ăn thịt họ.

Săn hổ trên sống lưng voi ở Ấn Độ, 1808 Một nhóm săn bắn với một con hổ Java bị giết, 1941Săn hổ hay sắn bắt hổ là việc bắt giữ hay giết hại hổ. Ngày nay, với những pháp luật pháp lý về bảo vệ loài hổ thì phạm trù này còn được lan rộng ra ra với những hành vi như nuôi nhốt, tàng trữ, vật chuyển, giết mổ trái phép để lấy những loại sản phẩm từ hổ. [ 33 ] Mặc dùng trong thiên nhiên và môi trường tự nhiên hổ là động vật hoang dã ăn thịt đầu bảng và không có nhiều kẻ thù dám rình rập đe dọa đến sinh mạng, nhưng con người là mối rình rập đe dọa nghiêm trọng nhất so với sự tồn vong của con hổ bởi việc săn bắt phạm pháp. Hổ Bengal là phân loài phổ cập nhất của con hổ, chiếm khoảng chừng 80 % hàng loạt dân số hổ, và được tìm thấy ở Bangladesh, Bhutan, Myanmar, Nepal, Ấn Độ và đã bị săn bắt trong nhiều thế kỷ .Tục săn hổ đã có từ lâu trong lịch sử vẻ vang và con hổ là một động vật hoang dã phổ cập của những game show chết chóc, chúng đã bị săn bắt để biểu lộ uy danh, sức mạnh của con người cũng như những thương hiệu đạt được khi săn được hổ. Trong lịch sử vẻ vang, hổ đã bị săn bắt bằng những hình thức khác nhau như chuyến hành trình dài ( đi bộ ), trên sống lưng ngựa, và phổ cập nhất là trên sống lưng voi. Ngày nay, nạn săn bắt trộm vẫn liên tục lộng hành ngay cả sau khi việc săn bắn hổ đã trở thành hành vi phạm pháp và loài hổ đã được pháp lý bảo vệ. Điều này đã dẫn đến rủi ro tiềm ẩn tuyệt chủng cho loài hổ trên khắp thế giới. [ 34 ] So với sư tử thì hổ được coi là khó khăn vất vả hơn khi săn bắn vì thói quen sinh sống trong rừng rậm, những bụi cây rậm rạp và ít khi gầm rú ồn ào để khẳng định chắc chắn sự hiện hữu của mình như sư tử. [ 35 ]Những con hổ hoang dã là một trong những loài bị rình rập đe dọa nhất trên hành tinh. Các yếu tố chính rình rập đe dọa sự sống sót của những con hổ chính là con người để Giao hàng cho nhu yếu, do niềm tin tín ngưỡng, thực hành thực tế nghi lễ và sự ngày càng tăng dân số của con người cộng với va chạm giữa con người và khu vực sinh sống của hổ, mặc dầu quần thể hổ đa phần bị tác động ảnh hưởng bởi suy thoái và khủng hoảng môi trường tự nhiên sống và giảm tỷ lệ con mồi. Hổ thường bị săn bắt để lấy da, xương, hay những bộ phận khác. Nạn săn bắt, kinh doanh hổ khiến số lượng loài động vật hoang dã quý và hiếm này giảm 95 % so với đầu thế kỷ XX. Ngày nay trên thế giới chỉ còn khoảng chừng 5.000 – 7.000 thành viên hổ hoang dã, trong đó có khoảng chừng 200 con ở Nước Ta và 1.500 con ở Ấn Độ. [ 36 ] Loài hổ đã được đưa vào list những loài đang gặp nguy hại. Tổ chức động vật hoang dã hoang dã Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên ( WWF ) ước tính chỉ còn 3.200 con hổ sống trong thiên nhiên và môi trường hoang dã trên toàn thế giới, riêng tại Nước Ta chỉ còn 30 con. [ 37 ] Năm 2010, số lượng hổ ở Nước Ta chỉ còn vỏn vẹn 30 con và toàn khu vực sông Mê Kông chỉ còn khoảng chừng 350 con hổ. Cả thế giới chỉ còn 3500 con hổ. Đối với Nước Ta năm 2010 cũng hoàn toàn có thể là năm ở đầu cuối của hổ. Năm 2022, theo những Dự kiến của Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế ( WWF ) hổ sẽ biến mất ở vùng sông Mê Kông. [ 38 ]

Trong điều kiện kèm theo nuôi nhốt[sửa|sửa mã nguồn]

Hình ảnh công khai minh bạch của huấn luyện viên động vật hoang dã Gunther Gebel-Williams với một số ít con hổ đã được giảng dạy của anh ấy, tiếp thị anh ấy là ” siêu sao ” của Ringling Brothers và Barnum và rạp xiếc Bailey vào khoảng chừng năm 1969 .Vào thời La Mã cổ đại, những con hổ được nuôi nhốt để được tọa lạc, đào tạo và giảng dạy và diễu hành, và thường bị khiêu khích để chiến đấu với con người và những con thú kỳ lạ khác. Từ thế kỷ 17, hổ, là loài quý và hiếm và hung ác, đã được tìm kiếm để giữ tại những thành tháp châu Âu như thể hình tượng cho sức mạnh của gia chủ. Những con hổ trở thành TT của vườn thú và triển lãm xiếc vào thế kỷ 18 : một con hổ hoàn toàn có thể có giá lên tới 4.000 franc ở Pháp ( để so sánh, một giáo sư của Beaux-Arts tại Lyon chỉ kiếm được 3.000 franc mỗi năm ), hoặc lên tới 3.500 đô la ở Hoa Kỳ, nơi một con sư tử có giá không quá 1.000 đô la .Trung Quốc ( 2007 ) có hơn 4.000 con hổ bị giam giữ, trong đó 3.000 con được giữ bởi khoảng chừng hai mươi cơ sở lớn, phần còn lại được giữ bởi khoảng chừng 200 cơ sở nhỏ hơn. Hoa Kỳ ( 2011 ) có 2.884 con hổ trong 468 cơ sở. 19 tiểu bang đã cấm những chiếm hữu tư nhân so với hổ, 15 bang nhu yếu phải có giấy phép và 16 tiểu bang không có lao lý. Tổ tiên di truyền của 105 con hổ bị nhốt từ mười bốn vương quốc và khu vực cho thấy rằng 49 thành viên thuộc về năm phân loài ; 52 thành viên có nguồn gốc phân loài hỗn hợp. Như vậy, ” nhiều con hổ Siberia trong những sở thú ngày này thực sự là hiệu quả của việc lai với hổ Bengal. “Kế hoạch sống sót của loài hổ đã lên án việc nhân giống hổ trắng, cho rằng chúng có nguồn gốc hỗn hợp và dòng dõi không xác lập. Các gen chịu nghĩa vụ và trách nhiệm cho màu trắng được đại diện thay mặt bởi 0,001 % quần thể. Sự tăng trưởng không phù hợp về số lượng hổ trắng chỉ ra sự cận huyết giữa những thành viên lặn đồng hợp tử. Điều này sẽ dẫn đến trầm cảm cận huyết và mất khả năng biến đổi gen .
Nhiều người Trung Quốc vẫn luôn tin rằng nhiều bộ phận của con hổ có tính năng trong y học, gồm có những tính năng giảm đau. [ 39 ] Đặc biệt ý niệm cho rằng hổ là động vật hoang dã can đảm và mạnh mẽ bậc nhất núi rừng nên năng lực tình dục của chúng là rất tốt và bộc lộ qua pín hổ sẽ giúp cho người đàn ông tăng cường sinh lực, bổ thận tráng dương theo niềm tin ăn gì bổ nấy. Không có bất kỳ một vật chứng khoa học nào chứng minh điều này. Việc sử dụng những bộ phận của hổ trong y học đã bị cấm ở Trung Quốc, và chính phủ nước nhà đã liệt một số ít tội tương quan đến việc săn trộm hổ vào loại hoàn toàn có thể bị xử tử hình. Hơn nữa, tổng thể việc kinh doanh những bộ phận của hổ đều là trái phép dưới công ước về việc kinh doanh quốc tế những loài động thực vật hoang dã và việc bán trong nước cũng đã bị cấm ở Trung Quốc năm 1993. Cho đến nay, vẫn sống sót những trại chăn nuôi hổ để thu lội nhuận. Ước tính rằng có khoảng chừng từ 5.000 đến 10.000 con được thuần hoá một phần và đang được nuôi nhốt trong những trại hổ lúc bấy giờ. [ 40 ] [ 41 ] [ 42 ]

Hổ trong văn hóa truyền thống[sửa|sửa mã nguồn]

Trong văn hóa truyền thống, hình tượng con hổ – Chúa Sơn Lâm hình tượng cho sức mạnh, sự hung tàn, bạo gan uy mãnh, vẻ đẹp và tâm linh nhưng cũng đồng thời là loài thú dữ hại ngườiTrong văn hóa truyền thống đại chúng, hình tượng con hổ hay Chúa Sơn Lâm đã Open từ truyền kiếp và gắn bó với lịch sử vẻ vang của loài người. Hổ và phẩm chất siêu phàm của chúng là nguồn mê hồn của quả đât từ thời cổ đại, và chúng thường được nhìn thấy như những họa tiết văn hóa truyền thống và truyền thông online quan trọng. Chúng cũng được coi là một trong những con vật hấp dẫn, và được sử dụng như thể bộ mặt của những chiến dịch bảo tồn trên toàn thế giới. Trong nhiều nền văn hóa truyền thống khác nhau thế giới, hình ảnh con hổ gợi lên những liên tưởng về sức mạnh, sự oai linh, vẻ đẹp tỏa nắng rực rỡ nhưng đầy bí hiểm, sự uyển chuyển với khung hình vằn vện thấp thoáng lượn sóng cũng tính hung hãn, thú tính của một động vật hoang dã săn mồi số 1 và là một hình tượng của quý phái chiến binh [ 43 ] cũng như toát lên vẻ đẹp hùng vĩ và sức mạnh [ 44 ] [ 45 ] Về thực chất tự nhiên, hổ là dã thú có sức mạnh, to khỏe, nhanh gọn, thuần thục về kỹ thuật chiến đấu, thành thạo về kỹ năng và kiến thức săn mồi, loài vật này còn đặc trưng bởi tính hung tàn, táo bạo, liều lĩnh, dám tiến công hay đối địch nhiều thú to khỏe khác cùng với tiếng gầm rống rung chuyển núi rừng gây khiếp đảm cho muôn loài và còn là động vật hoang dã tinh ranh từ đó hổ được người ta tôn lên vị trí Chúa tể của rừng núi và coi hổ là con vật rất thiêng. [ 46 ] [ 47 ]

Trong thời hiện đại, hình tượng con hổ đã trở nên ngộ nghĩnh, đáng yêu hơn rất nhiều so với hình ảnh của một loài ác thú trước đó nhằm đề cao ý thức bảo vệ, bảo tồn loài hổ khi loài này đã trở thành một động vật quý hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Một cuộc thăm dò dư luận của kênh truyền hình Animal Planet cho kết quả hổ là con vật được yêu thích nhất trên thế giới với kết quả điều tra đối với hơn 50.000 người xem đến từ 73 quốc gia, theo kết quả bỏ phiếu thì hổ nhận được 21% số phiếu bầu và đứng hạng nhất, tiếp theo là chó với số phiếu sát sao 20%, cá heo đạt 13%, ngựa đạt 10%, sư tử chỉ đạt 9%, rắn được 8%, tiếp theo là voi, tinh tinh, đười ươi và cá voi[48][49][50] Ngày nay, cả thế giới đã dành riêng một ngày để kỷ niệm về loài hổ đó là Ngày quốc tế về bảo tồn hổ (nhằm ngày 29 tháng 7 hàng năm)[51][52][53] lần đầu tiên, ngày này đã diễn ra tại Việt Nam vào năm 2011, tại công viên Thống Nhất diễn ra mít tinh và hội thảo về tăng cường công tác bảo tồn hổ nhân Ngày quốc tế về Bảo tồn hổ nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với vấn đề bảo tồn loài hổ.[54][55]

Thần thoại và truyền thuyết thần thoại[sửa|sửa mã nguồn]

Hổ và chim ác là ở Minhwa, cuối thế kỷ 19.ở Minhwa, cuối thế kỷ 19 . Kim loại Sogdiana khắc hình con hổ

Đối với nhiều nước châu Á là Châu lục mà loài hổ phấn bố thì hổ còn là biểu tượng của sức mạnh, uy quyền và tâm linh. Tại đây, hổ được coi là có vị trí thống trị trong giới động vật nên nhân dân ở một số nước phương Đông đã thần thánh hóa loài này với tập tục thờ hổ hay thờ thần hổ đã đi vào tín ngưỡng dân gian của nhiều dân tộc, cộng đồng[56][57] nhất là ở những chốn rừng núi sâu thẳm thì hổ luôn được thờ phụng,[58] một số dân tộc khác còn tôn thờ hổ như thần giám hộ, nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng hình ảnh con hổ là biểu tượng của đất nước, là vật tổ của dân tộc mình.

Hình ảnh con hổ đã đi sâu vào văn hóa truyền thống, lịch sử vẻ vang, nghệ thuật và thẩm mỹ như Trung Quốc, Nước Hàn, Nước Ta, Ấn Độ, Nhật Bản, những nước Khu vực Đông Nam Á …. Ở một số ít nơi khác, hổ cũng tượng trưng cho quyền uy, sức mạnh uy mãnh và ở một góc nhìn nào đó là biểu lộ cho nhiều phẩm chất cao quý, đẹp tươi của con người như phẩm chất kiên trì theo 1 số ít ý niệm do với tập tính của nó, con hổ còn biểu lộ phẩm chất kiên trì và dũng mãnh vì bản năng những con hổ biết khi nào nên nằm yên phục kích con mồi nhưng cũng biết vồ lấy thời cơ khi con mồi mất cẩn trọng. Nhìn từ quan điểm của người phương Tây thì ma hổ ( hổ yêu tinh hay hổ thành tinh ) thay thế sửa chữa ma sói trong văn hóa truyền thống dân gian ở châu Á, ở Ấn Độ, họ là những thầy phù thủy gian ác, trong khi ở Indonesia và Malaysia họ có phần lành tính hơn. Trong sử thi Mahabharata của Ấn Độ giáo cho rằng những con hổ hung tàn và tàn tệ hơn cả sư tử .Các triều đại phong kiến ở những nước Phương Đông coi hổ cùng với rồng Trung Quốc là biểu trưng cho vương quyền, trong quân sự chiến lược, võ học và cho những thành đạt trong khoa cử, chính thế cho nên mà hình ảnh con hổ Open khá thông dụng trong cung cấm, doanh trại và trong trường thi [ 59 ] Ở Hoàng gia Trung Quốc, một con hổ là nhân cách hóa cuộc chiến tranh và thường đại diện thay mặt cho tướng quân đội cao nhất ( hoặc bộ trưởng liên nghành quốc phòng ngày này ), trong khi nhà vua và hoàng hậu được đại diện thay mặt bởi một con rồng và phượng hoàng, tương ứng. Đứng hàng thứ ba trong thập nhị địa chi, hổ là vị vua mang nhiều ẩn dụ nhất trong những loài dã thú. Trong truyền thuyết thần thoại và văn hóa truyền thống Trung Quốc, hổ là một trong 12 loài động vật hoang dã thuộc cung hoàng đạo Trung Quốc. Võ thuật Hoa Nam Hồng Gia Quyền dựa trên những động tác của hổ và sếu .Trong dân gian Nước Ta, hình ảnh con hổ phổ cập trong những kiến trúc đình, miếu, dưới chính sách quân chủ của triều đình phong kiến, hình ảnh Hổ được hình tượng cho sức mạnh quân sự chiến lược, cho những vị võ tướng và thường được thêu trên áo những võ quan hàng tứ phẩm [ 60 ] ở một góc nhìn khác, người ta thường kể nhiều chuyện dân gian, sự đồi thổi, vẽ tranh, tạc tượng về con hổ rất nhiều và khiến cho nó trở thành những nhân vật TT của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật và thẩm mỹ đại chúng. [ 61 ]. Bạch Hổ ( tiếng Trung : ; bính âm : Bái Hǔ ) là một trong bốn hình tượng của những chòm sao Trung Quốc cổ đại. Đôi khi nó được gọi là Bạch Hổ của phương Tây ( tiếng Trung : 白虎 ), và nó đại diện thay mặt cho phía tây và mùa thu .

Đuôi hổ xuất hiện trong các câu chuyện từ các quốc gia bao gồm Trung Quốc và Triều Tiên, nói chung là không thể nắm bắt được một con hổ bằng đuôi. Trong thần thoại và văn hóa Triều Tiên, con hổ được coi là người bảo vệ xua đuổi tà ma và một sinh vật linh thiêng mang lại may mắn – biểu tượng của lòng dũng cảm và sức mạnh tuyệt đối. Đối với những người sống trong và xung quanh các khu rừng của Triều Tiên, con hổ được coi là biểu tượng của Thần núi hoặc Vua của các loài động vật trên núi. Vì vậy, người Hàn Quốc cũng gọi hổ là “San Gun” () có nghĩa là Chúa tể núi. Trong Phật giáo, hổ là một trong ba sinh vật vô tri, tượng trưng cho sự tức giận, với con khỉ tượng trưng cho lòng tham và con nai tình yêu. Các dân tộc Tungus coi hổ Siberia là một vị thần gần như và thường gọi nó là “Ông” hay “Ông già”. Người Udege và Nanai gọi nó là “Amba”. Người Mãn Châu coi con hổ Siberia là “Hu Lin”, tức nhà vua. Trong Ấn Độ giáo, thần Shiva mặc và ngồi trên da hổ. Nữ thần chiến binh mười vũ trang Durga cưỡi con hổ cái (hay sư tử cái) Damon vào trận chiến. Ở miền nam Ấn Độ, thần Ayyappan được liên kết với một con hổ.

Trong văn học, thẩm mỹ và nghệ thuật và phim ảnh[sửa|sửa mã nguồn]

Bản in tiên phong của The Tyger ( William Blake ), c. 1795Trong ngôn từ, thẩm mỹ và nghệ thuật, người ta vẫn dùng đến hình ảnh con hổ với nhiều tác phẩm nổi tiếng có sự hiện hữu của loài hổ. Trong một số ít nghành nghề dịch vụ khác đặc biệt quan trọng là nghành quân sự chiến lược thời tân tiến lại có sự hiện hữu rất lớn của hình ảnh con hổ với hình tượng về sức mạnh của những đơn vị chức năng vũ trang, những loại vũ khí .

Trong bài thơ của William Blake phần Bài hát kinh nghiệm, có tựa đề “The Tyger”, ám chỉ hổ là một loài động vật đáng sợ. Trong cuốn tiểu thuyết Cuộc đời của Pi đoạt giải Man Booker năm 2001 của Yann Martel, nhân vật chính, sống sót sau vụ đắm tàu ​​hàng tháng trong một chiếc thuyền nhỏ, bằng cách nào đó tránh bị ăn thịt bởi một dã thú sống sót khác, một con hổ Bengal lớn. Câu chuyện được chuyển thể trong bộ phim cùng tên năm 2012 của Ang Lee. Jim Corbett là tác giả của cuốn sách được xuất bản năm 1944 Những kẻ ăn thịt người ở Kumaon kể về mười câu chuyện có thật về quá trình săn những con hổ ăn thịt người của ông tại vùng đất ngày nay thuộc vùng Uttarakhand phía bắc Ấn Độ. Cuốn sách đã bán được hơn bốn triệu bản, và là nền tảng của cả phim giả tưởng và phim tài liệu. Trong cuốn sách Chuyện rừng xanh năm 1894 của Rudyard Kipling, con hổ Shere Khan là kẻ thù sinh tử của nhân vật chính là cậu bé rừng xanh Mowgli. Những nhân vật hổ hiền lành hơn bao gồm Tigger trong Winnie-the-Pooh của A. A. Milne và Hobbes của truyện tranh Calvin và Hobbes, cả hai đều được thể hiện như những con thú nhồi bông đơn giản trở nên sống động.

Hổ cũng là thiêng vật cho những đội thể thao khác nhau trên khắp thế giới. Tony the Tiger là một linh vật nổi tiếng với món ngũ cốc Frosted Flakes của Kellogg. Thương hiệu xăng dầu Esso ( Exxon ) được quảng cáo từ năm 1969 trở đi với khẩu hiệu ‘ đặt một con hổ trong bể của bạn ‘ và một linh vật hổ ; hơn 2,5 triệu đuôi hổ tổng hợp đã được bán cho những người lái xe, họ buộc chúng vào nắp bình xăng của họ. Bia Tiger có logo là một con hổ đã trở thành loại bia tiên phong của Nước Singapore được ủ tại chính đảo quốc này, được tung ra thị trường vào năm 1932 và là tên thương hiệu độc quyền số 1 của Nhà máy bia Châu Á Thái Bình Dương Thái Bình Dương, được bán tại hơn 60 vương quốc trên toàn thế giới gồm có Mỹ, Canada, Úc, New Zealand và nhiều nước khác ở Trung Đông, châu Âu, châu Á và Mỹ Latinh .

Từ Trung Anh Tigre và tiếng Anh cổ tigras (số nhiều) bắt nguồn từ tiếng Pháp cổ tigre, từ tiếng Latinh tigris. Đây là một từ mượn của tiếng Hy Lạp cổ đại τίγρις (phiên âm là tigris, tên loài hiện đại), một từ vay nước ngoài không rõ nguồn gốc có nghĩa là “con hổ” cũng như dòng sông Tigris. Nguồn gốc có thể là tigra theo tiếng Ba Tư (nhọn hoặc sắc) và tiếng Avesta tigrhi (mũi tên), có lẽ đề cập đến tốc độ nhảy của hổ, mặc dù những từ này không được biết có bất kỳ ý nghĩa nào liên quan đến hổ. Tên chi Panthera có thể truy nguyên theo pantère của tiếng Pháp cổ, từ panthera của Latin, từ panther của tiếng Hy Lạp cổ đại, rất có thể với nghĩa gốc là “động vật màu vàng”, hoặc từ pandarah có nghĩa là “màu trắng vàng”, có thể liên quan đến tiếng Phạn pundarikas (hổ). Nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp pan- (“tất cả”) và ther (“con thú”) có thể là từ nguyên dân gian không chính xác.

Chính trị và kinh tế tài chính[sửa|sửa mã nguồn]

Một đồng xu bạc tiên phong của vua Uttama Chola được tìm thấy ở Sri Lanka cho thấy Chola Tiger ngồi giữa những hình tượng của Pandyan và Chera

Ngày nay, trong văn hóa đại chúng trên nhiều lĩnh vực như thể thao, kinh tế, quảng cáo đặc biệt là dùng để chỉ về tiềm lực hùng mạnh cũng như sự trỗi dậy của nền kinh tế ở các quốc gia đặc biệt là ở châu Á như Bốn con hổ châu Á, bốn con hổ con kinh tế (Tiger Cub Economies), Những con hổ kinh tế mới [62] Những con Hổ kinh tế (Tiger economies) là cách nói hình tượng dành cho những nền kinh tế với tốc độ phát triển rất nhanh và mạnh, thường gắn liền với sự cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống. Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore được mô tả là Bốn con hổ châu Á.[63] Người ta cũng sử dụng hình tượng, biểu tượng, biểu trưng, phù hiệu, nhãn hiệu có thể hiện hình ảnh con hổ.

Hổ là một trong những con vật được tọa lạc trên con dấu Pashupati của nền văn minh lưu vực sông Ấn. Con hổ là hình tượng của triều đại Chola và được miêu tả trên tiền xu, con dấu và biểu ngữ. Các con dấu của một số ít đồng xu Chola cho thấy con hổ, con cá hình tượng Vương triều Pandya và cây cung hình tượng Chera, cho thấy rằng Chola đã đạt được uy quyền chính trị trong hai triều đại sau. Tiền vàng được tìm thấy ở Kavilayadavalli ở Q. Nellore của Andhra Pradesh có họa tiết của con hổ, cây cung và một số ít tín hiệu không rõ ràng. Biểu tượng con hổ của Đế chế Chola sau đó đã được trải qua bởi Hổ Giải phóng bang Tamil Eelam và con hổ đã trở thành một hình tượng của nhà nước không được công nhận của trào lưu độc lập Tamil Eelam và Tamil .Hổ Bengal là động vật hoang dã vương quốc của Ấn Độ và Bangladesh. Hổ Mã Lai là động vật hoang dã vương quốc của Malaysia. Hổ Siberia là động vật hoang dã vương quốc của Nước Hàn .

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *