Núi Ólympos – Wikipedia tiếng Việt

Là đỉnh núi cao nhất Hy Lạp

Núi Ólympos (tiếng Hy Lạp: Όλυμπος) hay núi Olympus hoặc Óros Ólimbos, còn gọi là Núi Ô Lim, là ngọn núi cao nhất tại Hy Lạp với độ cao 2.919 m (9.577 ft)[3]. Do chân núi nằm gần như ngang với mực nước biển, nên nó là một trong những ngọn núi cao nhất tại châu Âu khi tính theo độ cao tương đối từ chân tới đỉnh.

Núi Ólympos nằm tại tọa độ , trong lòng Hy Lạp đại lục. Là một phần của khối núi Olympus gần Vịnh Thérmai (Thermaïkós) ở vùng Biển Aegea, nằm ở dãy Olympos ngay giữa vùng ThessalyMakedonia, nằm giữa hai tỉnh PieriaLarissa, cách Thessaloniki, thành phố lớn thứ hai của Hy Lạp, khoảng 80 km về phía Tây Nam.

Núi Ólympos đáng chú ý vì sự giàu có quần thực vật của nó với một số loài là đặc hữu. Đỉnh cao nhất trên núi Ólympos là Đỉnh Mũi Nhọn Mitikas (Mytikas, Μύτικας), trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “mũi”. Mitikas là đỉnh núi cao nhất tại Hy Lạp, đứng thứ hai là Skolio (2.912 m). Các cuộc leo núi này đều bắt đầu từ thị trấn Litochoro, còn được gọi là thành phố của các thánh thần do vị trí của nó tại chân núi.

Đỉnh Mytikas
Đỉnh Mũi NhọnĐỉnh Mũi Nhọn Núi Ólympos nhìn từ hướng đông Núi Ólympos nhìn từ hướng nam Núi Ólympos nhìn từ hướng bắc ở Petra, Pieria

Nằm trong khu vực có quá trình địa chất phức tạp và lâu dài có thể thấy rõ từ hình thái của Olympus và ở khu vực vườn quốc gia. Bao gồm các hẻm núi sâu và hơn mười đỉnh núi trẻ, rất nhiều trong số đó có ngọn còn cao hơn 2.000 mét (6.600 ft), với đỉnh Aghios Antonios cao 2.815 mét (9.236 ft), Kalogeros cao 2.700 mét (8.900 ft), Toumpa cao 2.801 mét (9.190 ft) và Profitis Ilias cao 2.803 mét (9.196 ft). Tuy nhiên, chính những đỉnh núi đá ở vùng trung tâm, gần như thẳng đứng mới là điểm chính gây ấn tượng cho du khách.

Ở đường chân trời của thị trấn Litochoro khi nhìn vào ngọn núi có hình chữ V nằm giữa hai đỉnh và gần như là độ cao bằng nhau. Phía bên trái là đỉnh Mũi Nhọn (Mytikas) hay Bách Thần (Pantheon). Đây là đỉnh núi cao nhất ở Hy Lạp.

Còn phía bên phải là đỉnh Stefani (hay Thronos Dios) Thiên Ngai của Zeus cao 2.902 mét (9.521 ft), là đỉnh núi ấn tượng nhất với nền địa hình dốc đứng với đỉnh cao 200 mét là thách thức lớn nhất đối với các nhà leo núi.

Ở phía Nam, Skolio ( ) đỉnh phụ cao thứ hai – 2.911 mét (9.551 ft) hoàn thành một vòng cung khoảng 200 độ, với các sườn dốc hình thành ở phía tây, giống như một bức tường, một hang động biểu diễn vách đá ấn tượng, 700 mét (2.300 ft) sâu và 1.000 mét (3.300 ft) chu vi, ‘Megala Kazania’. Ở phía đông của các đỉnh núi cao, các sườn dốc tạo thành vùng giống như các nếp gấp song song, ‘Zonaria’. Ngay cả những điểm hẹp hơn và dốc hơn, ‘Loukia’, dẫn đến đỉnh cao.

Đỉnh Profitis Ilias và đoàn Christos Kakalos

Ở phía bắc, giữa Stefani và Profitis Ilias, kéo dài Cao nguyên Muses, ở độ cao 2.550 mét (8.370 ft), trong khi xa hơn về phía nam, gần như ở trung tâm của khối núi, mở rộng vùng lãnh nguyên núi cao của Bara, ở độ cao 2.350 mét (7.710 ft). Olympus có nhiều khe núi và mòng biển. Các khe núi dễ phân biệt nhất là Mavrologos-Enipeas (14 km) và Mavratzas-Sparmos (13 km) gần Bara và ‘cắt’ khối núi thành hai phần hình bầu dục.

Ở chân đồi phía nam, hẻm núi lớn Ziliana, dài 13 km, bao gồm một giới hạn tự nhiên ngăn cách ngọn núi với Hạ Ô Lim. Ngoài ra còn có nhiều vách đá và một số hang động, thậm chí ngày nay vẫn chưa được khám phá. Hình dạng và cách bố trí của đá tạo điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện của nhiều suối, chủ yếu ở độ cao thấp hơn 2.000 m, của các hồ và suối nhỏ theo mùa và của một con sông nhỏ, Enipeas, với các suối ở địa điểm Prionia và cửa sông của nó ở Biển Aegean

Tên gọi và Thần thoại[sửa|sửa mã nguồn]

Từ nguyên học và ý nghĩa của từ Όλυμπος (Ólympos) không được rõ ràng, và nó có thể có nguồn gốc trong ngôn ngữ tiền Ấn-Âu hay ngôn ngữ Hy Lạp cổ. Trong sử thi Odyssey 6.42 có nhắc đến Οὔλυμπος (Oulumpos), được coi là nơi ngự trị của các vị thần (và không được xác định với bất kỳ đỉnh núi cụ thể nào).
Sử thi của Homeros Iliad 5.754 và Odyssey 20.103 cũng sử dụng từ οὔλυμπος làm danh từ chung, như một từ đồng nghĩa của οὐρανός (ouranos) “bầu trời”.
Trong lịch sử, Núi Olympos trước kia được gọi là Núi Belus[a], theo Iliad 1.591, nơi ngự trị của các vị thần được gọi là βηλός θεσπεσίος (Vilós Thesspesíos) “ngưỡng cửa thiên đàng”.

Skourta.jpg

Đường lên đỉnh núi Olympus
Trong Tôn giáo Hy Lạp cổ và truyền thuyết thần thoại Hy Lạp [ 4 ], núi Ólympos là nhà của Mười hai vị thần Olympus, những vị thần chính trong đền bách thần của người Hy Lạp. Người Hy Lạp cổ đại cho rằng nó được thiết kế xây dựng bằng những thành tháp pha lê mà trong đó những vị thần, như thần Zeus ( chúa tể của những vị thần ), đã sinh sống. Trong truyền thuyết thần thoại Hy Lạp người ta cũng kể rằng sau khi nữ thần Gaia ( nữ thần mẹ đất ) sinh ra những thần khổng lồ ( Titan ) ( những vị thần tổ tiên của những thần ) thì họ đã dùng những ngọn núi ở Hy Lạp làm ngai vàng của họ do họ quá khổng lồ, và Cronus ( vị thần Titan trẻ nhất và hùng mạnh nhất ) đã ngồi trên núi Olympus .
Cao nguyên Mousa, và Stefani ( thiên ngai của Zeus )Ở Pieria, chân đỉnh núi phía Bắc, có câu truyện về những nàng Mousa, con gái của thần Zeus và nữ Titan của ký ức Mnemosyne. [ 5 ]

Với nền địa hình cao hiểm trở có thể thấy bằng mắt thường cùng với yếu tố thần thoại, những ngọn núi cao nhất địa phương có xu hướng được đặt tên như vầy; và vô số đỉnh núi có người Hy Lạp đều có tên là Olumpos vào thời cổ đại, như ngọn núi ở Mysia (Núi Uludağ), Laconia (Núi Lykaion), Lycia (Núi Tahtalı), Olympus ở Síp, Attica, Euboea, Ionia (Núi Nif) và Lesbos, và vì ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp sau thời Phục Hưng nên Olympus là một tên gọi núi khá phổ biến trong thế giới phương Tây nên ta cũng có núi Olympus ở Utah, núi Olympus tại bang Washington và nhiều ngọn núi trùng tên khác.

Ở Hy Lạp, Núi Olympos ở Thes saly là ngọn núi cao nhất trong những chủ quyền lãnh thổ được định cư bởi người Hy Lạp và hoàn toàn có thể tượng trưng cho nơi ở của những vị thần khi mà Herodotus ( 1.56 ) vào thế kỷ 5 TCN đã chọn ngọn núi này .

Thảm thực vật[sửa|sửa mã nguồn]

Danh sách 23 loài thực vật đặc hữu của địa phương trên đỉnh Olympus từ Cơ quan Quản lý Vườn Quốc gia Olympus

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

  1. ^ bel “chúa”);
    see e.g. Algernon Herbert, Nimrod; a discourse upon certain passages of history and fable (1826)
    Trong nền văn học cận đại, tên gọi của Belus, gắn liền vị vua trong truyền thuyết thần thoại Assyria ( từ tiếng Akkad ” chúa ” ) ; see e. g. Algernon Herbert, ( 1826 ) p. 67

Related Articles

Responses

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *