Đảng Cộng sản Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền và là chính đảng duy nhất được phép hoạt động tại Việt Nam theo Hiến pháp. Theo Cương lĩnh và Điều lệ chính thức hiện nay, Đảng là đại diện của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động.[3] Trong ngữ cảnh không chính thức cũng dùng từ “Đảng” (hoặc “Đảng ta”) để nói về Đảng Cộng sản Việt Nam.[4][5]

Cơ quan cao nhất của Đảng là Đại hội Đại biểu toàn nước, nơi sẽ bầu ra Ban Chấp hành Trung ương. Giữa những kỳ Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng là cơ quan tối cao quyết định hành động những yếu tố của Đảng. Sau Đại hội, Trung ương sẽ bầu ra Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương và bầu một Ủy viên Bộ Chính trị làm Tổng Bí thư .

Đảng huy không chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, thường được thể hiện trên các bằng khen của các tổ chức trong Đảng.

Vai trò

Điều 4 của Hiến pháp Việt Nam 2013 chứng minh và khẳng định vai trò chỉ huy tuyệt đối của Đảng lên Nhà nước và xã hội :
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền tại Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và tác động ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế tài chính, xã hội, chính trị của nhà nước này, đảng viên là những người nắm giữ những cương vị chủ chốt trong những cơ quan chỉ huy của Đảng và Nhà nước Việt Nam .Trong Di chúc của Hồ Chí Minh có viết :

Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.[6]

Cương lĩnh

Điều lệ

Điều lệ Đảng là văn bản pháp lý cơ bản của Đảng, xác lập tôn chỉ, mục tiêu, hệ tư tưởng, những nguyên tắc về tổ chức triển khai, hoạt động giải trí, cơ cấu tổ chức cỗ máy của Đảng ; lao lý nghĩa vụ và trách nhiệm, nghĩa vụ và trách nhiệm, quyền hạn của đảng viên và của tổ chức triển khai đảng những cấp .Mục đích của việc thiết kế xây dựng Điều lệ Đảng là nhằm mục đích thống nhất tư tưởng, tổ chức triển khai và hành vi trong toàn Đảng, thực thi tiềm năng của Đảng. Điều lệ Đảng do Đại hội đại biểu toàn nước của Đảng trải qua và phát hành. Mọi tổ chức triển khai đảng và đảng viên đều phải chấp hành Điều lệ Đảng .

Những lần sửa đổi

Điều lệ Đảng đã được sửa đổi 12 lần tính tới lúc bấy giờ. Điều lệ do Đại hội Đảng toàn quốc trải qua và phát hành nên để tương thích với toàn cảnh mới khi tổ chức triển khai Đại hội Đảng những tổ soạn thảo thường yêu cầu quan điểm để Đại hội đàm đạo sửa đổi, bổ trợ 1 số ít yếu tố trong điều lệ .

Điều lệ đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng ngày 3 tháng 2 năm 1930 với tên gọi Điều lệ vắn tắt. Với văn bản ban đầu chỉ gói gọn trong 9 điều.

Những lần sửa đổi :

  • Hội nghị thành lập Đảng thông qua Điều lệ vắn tắt ngày 3 tháng 2 năm 1930, gồm 9 điều
  • Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 29 tháng 3 năm 1935 thông qua Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương gồm 59 điều 8 chương. Điều lệ sửa đổi bổ sung tôn chỉ hành động của Đảng từ “tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa” thành “làm cách mạng phản đế và điền địa”. Bổ sung độ tuổi vào Đảng từ 23 tuổi trở lên; bổ sung quy định tước đảng tịch. Bổ sung sửa đổi tổ chức Đảng các cấp, quy định nhiệm vụ Thanh niên Cộng sản Đoàn với Đảng.
  • Đại hội lần thứ 2 Đảng Lao động Việt Nam, gồm 71 điều 13 chương. Sửa đổi tôn chỉ và mục đích của Đảng thành “đánh đuổi đế quốc xâm lược, xoá bỏ các di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện người cày có ruộng, phát triển kinh tế, chính trị, vǎn hoá dân chủ nhân dân”. Đưa chủ nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam hành động. Sửa đổi độ tuổi vào Đảng là từ 18 tuổi trở lên; Bổ sung nguyên tắc dân chủ tập trung trong Đảng; sửa đổi bổ sung tổ chức của Đảng gồm Đại hội Đảng toàn quốc-Trung ương Đảng, xứ ủy-khu ủy-liên khu ủy, tỉnh ủy-thành ủy, huyện uỷ-quận uỷ-thị uỷ, chi ủy. Quy định về nhiệm vụ của các cơ quan của Đảng. Bỏ quy định đoàn thanh niên cộng sản ra khỏi điều lệ.
  • Đại hội lần thứ 3 Đảng Lao động Việt Nam, gồm 62 điều 12 chương. Sửa đổi mục đích của Đảng thành “hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam”. Sửa đổi chủ nghĩa Marx-Lenin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động của Đảng. Bổ sung nhiệm vụ đảng viên “thực hành tiết kiệm, tích cực đấu tranh chống lãng phí, tham ô”. Bổ sung quy định chi tiết nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Sửa đổi tổ chức của Đảng, quy định nhiệm kỳ của Ban chấp hành Trung ương là 4 năm. Đưa Đoàn thanh niên vào điều lệ.

Hệ tư tưởng và đường lối

Đảng Cộng sản xây dựng năm 1930 [ 7 ] sau là một phân bộ của Quốc tế Cộng sản, theo chủ nghĩa Marx – Engels – Lenin .Theo Điều lệ Đảng năm 1935 :

Đảng Cộng sản Đông Dương, đội tiền phong duy nhất của vô sản giai cấp, tranh đấu để thu phục đa số quần chúng vô sản, lãnh đạo nông dân lao động và tất thảy quần chúng lao động khác, chỉ huy họ làm cách mạng phản đế và điền địa (mưu cho Đông Dương được hoàn toàn độc lập, dân cày được ruộng đất, các dân tộc thiểu số được giải phóng), lập chính quyền Xô viết công nông binh, đặng dự bị điều kiện tranh đấu thực hiện vô sản chuyên chính, kiến thiết xã hội chủ nghĩa là thời kỳ đầu của cộng sản chủ nghĩa theo chương trình của Quốc tế Cộng sản.

Điều lệ Đảng năm 1951 xác lập :

Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Mục đích của Đảng là phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và tất cả các dân tộc đa số, thiểu số ở Việt Nam.
Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Marx – Engels – Lenin – Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng[8].

Đến Đại hội Đảng lần thứ 3 ( 1960 ) thì điều lệ đảng xóa bỏ chữ ” Engels, Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông “, [ 9 ] và từ Đại hội Đảng lần thứ 7 ( 1991 ) thêm vào chữ ” Tư tưởng Hồ Chí Minh “. [ 10 ]Đảng Lao động Việt Nam tổ chức triển khai theo nguyên tắc dân chủ tập trung chuyên sâu. Chính cương của Đảng năm 1951 xác lập :

Đảng Lao động nhằm hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xoá bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, làm cho nước Việt Nam độc lập và thống nhất, dân chủ tự do, phú cường và tiến lên chủ nghĩa xã hội.[8]

Tại Đại hội III năm 1960, nghị quyết xác lập :

Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, là đội tiền phong có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân. Đảng gồm những người giác ngộ tiên tiến, gương mẫu, dũng cảm và hy sinh nhất trong giai cấp công nhân, trong nông dân lao động, trí thức cách mạng và các tầng lớp nhân dân lao động khác, tự nguyện đứng trong hàng ngũ Đảng mà phấn đấu. Đảng đại biểu quyền lợi của giai cấp công nhân, đồng thời đại biểu quyền lợi của nhân dân lao động và quyền lợi của dân tộc. Mục đích của Đảng là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.[9]
Đảng lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Marx – Lenin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Đảng Lao động Việt Nam đi đường lối quần chúng trong mọi hoạt động của mình. Đảng Lao động Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ và có kỷ luật rất nghiêm minh. Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cǎn bản của Đảng.[9]

Cương lĩnh của đảng năm 1991 xác lập :

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Marx – Engels – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.

Nghị quyết của đảng năm 1991 cũng nêu rõ :

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân.
Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 ghi: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới“.[11]

Cương lĩnh sử dụng từ ” nhân dân ” chứ không nói ” nhân dân lao động “, không nói ” quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa “, mà chỉ nói ” quan hệ sản xuất văn minh tương thích ” .Đảng Cộng sản Việt Nam được biết đến với việc đưa ra và tăng trưởng quy mô kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩa. Trên thực tiễn đường lối của Đảng lúc bấy giờ gây ra rất nhiều tranh luận từ phía bên ngoài, là ” hữu khuynh ” hay ” theo đúng ” tôn chỉ của chủ nghĩa Marx – Lenin. Các chủ trương được cho là theo đường lối Kinh tế mới ( NEP ) của Lenin [ 12 ], nhưng cũng có quan điểm cho là những cải cách vượt xa cả NEP, và được cho là thân mật với lý luận Đặng Tiểu Bình và đường lối của Trung Quốc lúc bấy giờ. Trong khi đó tư tưởng Hồ Chí Minh được nhiều nhà nghiên cứu hiểu khác nhau và vận dụng khác nhau. Chính sách ” Đổi Mới ” được đưa ra năm 1986 được 1 số ít người nhận định và đánh giá là ” quay lại cái cũ ” ( như xóa bỏ hợp tác xã kiểu cũ, cho tư nhân kinh doanh thương mại thoáng đãng, tư bản quốc tế góp vốn đầu tư, ra luật góp vốn đầu tư, thiết lập đầu tư và chứng khoán, cho in lại nhiều sách vở về dân chủ – tự do, những phe phái triết học phi Marxist, những tầm cỡ Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, trùng tu nhiều đền chùa, cho in lại văn học lãng mạn … )

Lịch sử

Thành lập

Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam do chỉ thị của Đông Phương Bộ (là một bộ phận của Đệ Tam Quốc tế) yêu cầu Nguyễn Ái Quốc triệu tập các đại biểu cộng sản Việt Nam họp từ ngày 6 tháng 1 năm 1930[13] đến ngày 8 tháng 2 năm 1930 tại Hương Cảng, trên cơ sở thống nhất ba tổ chức cộng sản tại Đông Dương (Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng; thành viên từ một nhóm thứ ba tên là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không kịp có mặt). Hội nghị hợp nhất này diễn ra tại căn nhà của một công nhân ở bán đảo Cửu Long (Kowloon) từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 8 tháng 2 năm 1930, đúng vào dịp Tết năm Canh Ngọ. Tham dự Hội nghị có 2 đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng (Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh), hai đại biểu An Nam Cộng sản Đảng (Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm) và 3 đại biểu ở nước ngoài (có Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, đại biểu của Quốc tế Cộng sản). Hội nghị quyết định thành lập một tổ chức cộng sản duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua một số văn kiện quan trọng như: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Lời kêu gọi. Ngày 24 tháng 2 năm 1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Báo cáo chính trị của Hồ Chí Minh tại Đại hội II ghi ngày thành lập Đảng là 6 tháng 1 nhưng Nghị quyết tại Đại hội III năm 1960 đổi là ngày 3 tháng 2 năm 1930.

Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hồng Kông từ ngày 14 đến 31 tháng 10 năm 1930, tên của đảng được đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương theo yêu cầu của Quốc tế thứ ba (Quốc tế Cộng sản) và Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên.[14]

Hoạt động chống Pháp

Lá cờ Xô Viết Nghệ Tĩnh – một trào lưu đấu tranh chống đế quốc Pháp tại Việt Nam từ năm 1930 đến 1931

Vừa ra đời, Đảng đã lãnh đạo phong trào nổi dậy 1930–1931, nổi bật là Xô Viết Nghệ – Tĩnh, mục đích thành lập chính quyền Xô viết. Phong trào này thất bại và Đảng Cộng sản Đông Dương tổn thất nặng nề vì khủng bố trắng của Pháp. Trước tình hình đó, đầu tháng 4/1931, Xứ ủy Trung Kỳ ra Chỉ thị thanh Đảng có nội dung “Đuổi sạch sành sanh ra ngoài hết thảy những bọn trí phú địa hào. Nếu đồng chí nào muốn làm cách mạng, tự nguyện đứng về phía giai cấp vô sản mà phấn đấu cũng không cho đứng trong Đảng.“. Chỉ thị này khiến một số đảng viên thuộc đối tượng thanh Đảng ra đầu thú với chính quyền, hoặc chuẩn bị ra đầu thú. Xứ uỷ Trung Kỳ phải ra lệnh thu hồi chỉ thị.[15]

Một thời gian trong thập niên 1930, tại miền Nam, Đảng Cộng sản và những người Trotskist hợp tác với nhau trên tờ báo La Lutte, mà Hồ Chí Minh sau cho là “một số đồng chí hợp tác vô nguyên tắc”[16].

Năm 1935, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ I được bí hiểm tổ chức triển khai tại Ma Cao do Hà Huy Tập chủ trì nhằm mục đích củng cố lại tổ chức triển khai đảng, trải qua những điều lệ, bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá I gồm 13 ủy viên .Đồng thời, một đại hội của Cộng sản Quốc tế thứ ba tại Moskva đã trải qua chủ trương dùng mặt trận dân tộc bản địa chống phát xít và chỉ huy những trào lưu cộng sản trên quốc tế hợp tác với những lực lượng chống phát xít bất kể đường lối của những lực lượng này có theo chủ nghĩa xã hội hay không để bảo vệ độc lập chứ chưa đặt trách nhiệm trước mắt là lật đổ chủ nghĩa tư bản. Việc này yên cầu Đảng Cộng sản Đông Dương phải xem những chính đảng có cùng lập trường chống phát xít tại Đông Dương là liên minh. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 7 năm 1936 do Lê Hồng Phong chủ trì tổ chức triển khai tại Thượng Hải, Đảng đã tạm bỏ khẩu hiệu ” đánh đổ đế quốc Pháp ” và ” tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày ” mà lập Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế Đông Dương, chống phát xít, đòi tự do, dân số dân chủ. Lợi dụng những quyền tự do, dân chủ do chính quyền sở tại cánh tả Pháp phát hành, đảng hoạt động giải trí công khai minh bạch, đấu tranh nghị trường, tham gia những cuộc bầu cử, sử dụng những quyền chính trị đấu tranh cho quyền lợi công nông tầm trung. Tháng 3 năm 1938, Hội nghị Trung ương do Hà Huy Tập chủ trì họp ở Hóc Môn, TP HCM đã đổi tên Mặt trận là Mặt trận dân chủ thống nhất Đông Dương cho tương thích tình hình .

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương lại đàn áp mạnh tay, Đảng đã chuyển hướng, coi giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu. Tháng 3 năm 1939, Đảng ra bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản Đông Dương đối với thời cuộc. Tháng 11 năm 1939 Hội nghị Trung ương đảng họp tại Hóc Môn, Sài Gòn do Nguyễn Văn Cừ chủ trì đã thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế Đông Dương và Hội nghị Trung ương ngày 19 tháng 5 năm 1941 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì họp tại Cao Bằng lập ra Mặt trận Việt Minh. Thông qua mặt trận này, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành chính quyền tại Việt Nam, được biết đến với tên gọi Cách mạng tháng Tám.

Tự giải tán

Ngày 11 tháng 11 năm 1945 Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán,[17] chuyển vào hoạt động bí mật, chỉ để một bộ phận hoạt động công khai dưới danh nghĩa Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Marx ở Đông Dương, mọi hoạt động công khai của đảng từ đây đều thông qua Mặt trận Việt Minh. Trên thực tế, Đảng vẫn hoạt động bí mật và giữ vai trò lãnh đạo chính quyền, chỉ đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc[18]. Khi đó Việt Minh được xem như là một tổ chức chính trị tham gia bầu cử Quốc hội khóa I và chính quyền. Sau đó Việt Minh tham gia Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, cùng với Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam…

Sau này, Đại hội Đảng lần thứ III ( tháng 9 năm 1960 ) quyết định hành động lấy ngày 3 tháng 2 hằng năm là ngày kỉ niệm xây dựng Đảng .

Đảng chỉ huy tại miền Bắc

Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bị Việt Nam Quốc dân Đảng và một số ít sử gia phương Tây cáo buộc, sau khi nhà nước Cách mạng Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được xây dựng, đã dựng lên Vụ án phố Ôn Như Hầu nhằm mục đích triệt hạ những đảng phái đối thủ cạnh tranh chính trị của mình trong chính quyền sở tại liên hiệp. [ 19 ] [ 20 ]

Đảng được “lập lại”, công khai (tại Việt Nam) với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam vào tháng 2 năm 1951, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II ở Tuyên Quang. Đại hội này được diễn ra trong lúc diễn ra Chiến tranh Đông Dương lần thứ I. Đại hội này cũng tách bộ phận của Lào và Campuchia (vốn cùng thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương) thành các đảng riêng.

Sau đại hội II, Đảng Cộng sản thực thi chiến dịch cải cách ruộng đất. Trong cuộc cải cách, 810.000 hécta ruộng đất ở đồng bằng và trung du miền Bắc đã được chia cho 2 triệu hộ nông dân, chiếm khoảng chừng 72,8 % số hộ nông dân ở miền Bắc. Tuy nhiên, cuộc cải cách đã đấu tố oan nhiều người, dẫn đến nhiều cái chết oan ( số liệu đơn cử chưa được xác lập ). Đến tháng 9 năm 1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( họp từ 25/8 đến 24/9/1956 ) đánh giá và nhận định những nguyên do đưa đến sai lầm đáng tiếc, và ý kiến đề nghị thi hành giải pháp kỷ luật so với Ban chỉ huy chương trình Cải cách Ruộng đất như sau : Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí thư Đảng, hai ông Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương ra khỏi Bộ Chính trị, và Hồ Viết Thắng bị loại ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng .Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III được tổ chức triển khai tại Thành Phố Hà Nội vào năm 1960 chính thức hóa công cuộc thiết kế xây dựng xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc, tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó và đồng thời thực thi cách mạng dân tộc bản địa dân chủ nhân dân tại miền Nam. Tiến hành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất .

Hoạt động bí hiểm tại miền Nam

Tại miền Nam, đảng bộ Miền Nam năm 1962 công khai minh bạch lấy tên Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam, là thành viên và chỉ huy Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam [ 21 ], tuyên truyền chủ nghĩa Marx – Lenin ( thành phần Mặt trận còn có Đảng Dân chủ, và Đảng Xã hội cấp tiến và những tổ chức triển khai do người cộng sản chỉ huy ) .

Đảng cầm quyền duy nhất tại Việt Nam

Tem bưu chính Liên Xô kỉ niệm 60 năm xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, được tổ chức vào năm 1976 sau khi chấm dứt Chiến tranh Việt Nam, tên Đảng được đổi lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

Điều 4 Hiến pháp năm 1980 quy định “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Marx – Lenin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội.“[22] Đảng cộng sản Việt Nam quyết định nhân sự mọi chức vụ cấp cao trong bộ máy chính quyền, trong quân đội cũng như trong các cơ quan truyền thông, các tổ chức quần chúng, các cơ quan học thuật như Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định bổ nhiệm nhân sự các chức vụ: Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ; Ủy viên Hội đồng Quốc phòng – An ninh, Ủy viên Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội – Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước; Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; Ủy viên Quân ủy Trung ương, ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, phong hoặc thăng quân hàm Đại tướng, Thượng tướng, Đô đốc Hải quân; Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; Chủ tịch, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam…[23]

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 diễn ra trong toàn cảnh sai lầm đáng tiếc của đợt tổng cải cách giá – lương – tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế tài chính Việt Nam càng trở nên khó khăn vất vả. Đại hội khởi xướng chủ trương Đổi Mới, cải tổ cỗ máy nhà nước, và quy đổi sang tăng trưởng nền kinh tế thị trường theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa [ 24 ], trong khi vẫn duy trì vị trí chỉ huy chính trị của Đảng Cộng sản .Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X năm 2006 liên tục chủ trương thay đổi, đồng thời được cho phép Đảng viên làm kinh tế tài chính tư nhân. [ 25 ]Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI năm 2011 thử nghiệm kết nạp chủ doanh nghiệp tư nhân vào Đảng [ 26 ]Năm 2017, Đảng Cộng sản Việt Nam phát hành lao lý khai trừ đảng viên cố ý nói, viết có nội dung xuyên tạc lịch sử vẻ vang, xuyên tạc thực sự, phủ nhận vai trò chỉ huy và thành quả cách mạng của Đảng và dân tộc bản địa [ 27 ] .

Hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam đang đối mặt với tình trạng tham nhũng và sự hình thành các nhóm lợi ích khiến Đảng gặp “nguy cơ về sự phân liệt về chính trị trong Đảng, là nói đến nguy cơ phân liệt đẳng cấp về tổ chức, về cán bộ cảnh báo nguy cơ mất sự thống nhất về chính trị và tư tưởng ở ngay trong chính nội bộ Đảng… nguy cơ Đảng bị phân rã, chia cắt, cát cứ là hết sức nguy hiểm. Trong Đảng mà nảy nòi nhiều “sứ quân” thì nguy cơ khó còn là Đảng Cộng sản nữa; và khi đó, vai trò lãnh đạo, trọng trách lịch sử của Đảng sẽ bị tổn thương và đe dọa nghiêm trọng“[28].

Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng phải “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới“.[29] Theo ông Phùng Hữu Phú, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thì hiện nay đã có ý kiến đề nghị bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin, chủ nghĩa xã hội vì “đã lạc hậu lắm rồi” tuy nhiên “không còn thừa nhận chủ nghĩa Marx – Lenin tức là không thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng. Các đảng phái sẽ mọc lên như nấm và quốc gia sẽ bước vào thời kỳ thập nhị sứ quân, rối loạn“[30]. Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XIII, Bộ trưởng Công an Tô Lâm nhận định “nguy cơ mất an ninh chính trị nội bộ, suy giảm thế trận lòng dân, làm suy yếu sức chiến đấu của Đảng, của chế độ ta từ gốc, từ bên trong là nguy hiểm nhất“[31]. Ông Phạm Minh Chính cho rằng tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được cải thiện, song “đây là vấn đề nhức nhối, còn tiếp tục, phải kiên trì, kiên quyết với nó hơn nữa”[32].

Tổ chức

Đại hội Đại biểu toàn nước

Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng theo Chủ nghĩa Marx-Lenin với nguyên tắc tập trung chuyên sâu dân chủ. Đại hội Đại biểu toàn nước là cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng, là cơ quan duy nhất có quyền phát hành hoặc sửa đổi Điều lệ Đảng và cương lĩnh chính trị, trải qua báo cáo giải trình tổng kết nhiệm kỳ đã qua và trải qua nghị quyết về phương hướng hành vi nhiệm kỳ tới, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan chỉ huy cao nhất việc chấp hành nghị quyết của đại hội. [ 33 ]Đại hội Đảng được tổ chức triển khai thường kỳ 5 năm một lần để xác lập đường lối chỉ huy của Đảng và Nhà nước, Đại hội không bình thường khi cần. [ 33 ]

Ban Chấp hành Trung ương

Giữa 2 kỳ đại hội, Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan chỉ huy cao nhất. Nhiệm vụ của Ban Chấp hành Trung ương gồm :
Các cơ quan TW tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương gồm có :
Các đơn vị chức năng thường trực Ban Chấp hành Trung ương gồm có :
Các Đảng bộ thường trực Ban Chấp hành Trung ương gồm có :

Bộ Chính trị

Bộ Chính trị là cơ quan chỉ huy và kiểm tra việc triển khai nghị quyết Ðại hội đại biểu toàn nước, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương ; quyết định hành động những yếu tố về chủ trương, chủ trương, tổ chức triển khai, cán bộ ; quyết định hành động triệu tập và chuẩn bị sẵn sàng nội dung những kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương ; báo cáo giải trình việc làm đã làm trước hội nghị Ban Chấp hành Trung ương hoặc theo nhu yếu của Ban Chấp hành Trung ương .Các thành viên trong Bộ Chính trị do Ban Chấp hành Trung ương bầu ra. Bộ Chính trị gồm những ủy viên chính thức và hoàn toàn có thể có những ủy viên dự khuyết. Đây là những nhân vật quyền lực tối cao nhất trong mạng lưới hệ thống chính trị Việt Nam .Về triết lý Đại hội Đảng là cơ quan chỉ huy cao nhất của Đảng nhưng Đại hội hay bị chi phối bởi Ban Chấp hành Trung ương và đến lượt Ban Chấp hành Trung ương hay bị chi phối bởi Bộ Chính trị .Các bạn chỉ huy TW thường trực Bộ Chính trị gồm có :

Ban Bí thư

Ban Bí thư là một cơ quan giám sát việc thi hành chủ trương hàng ngày của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết định hành động 1 số ít yếu tố theo sự phân công của Ban Chấp hành Trung ương .Thành phần Ban Bí thư gồm có Tổng Bí thư, 1 số ít Ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và 1 số ít Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công .

Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Ủy ban Kiểm tra Trung ương chuyên xem xét phẩm chất chính trị và tư cách đạo đức những đảng viên là cán bộ hạng sang, những vấn đề xấu đi tương quan đến những đảng viên hạng sang .Điều 32 Điều lệ Đảng lao lý trách nhiệm của Uỷ ban kiểm tra những cấp như sau :

  1. Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
  2. Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng.
  3. Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
  4. Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật.
  5. Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng.
  6. Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp.

Ủy ban kiểm tra có quyền nhu yếu tổ chức triển khai đảng cấp dưới và đảng viên báo cáo giải trình, phân phối tài liệu về những yếu tố tương quan đến nội dung kiểm tra .

Sơ đồ tổ chức triển khai

Cơ cấu tổ chức hệ thống Đảng Cộng sản Việt Nam.png

Lãnh đạo

Áp phích tuyên truyền của Đảng ở HuếKhi Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc, đại diện thay mặt Quốc tế Cộng sản và người tổ chức triển khai Hội nghị thống nhất đã chỉ định người đứng đầu điều hành quản lý Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiên phong với cương vị Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam là Trịnh Đình Cửu [ 34 ]. Ông giữ chức vụ này cho đến tháng 10 năm 1930 khi Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu Trần Phú làm Tổng Bí thư [ 35 ] .Tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất diễn ra từ ngày 12 đến 27 tháng 10 năm 1930 [ 36 ], Trần Phú được bầu vào vị trí đứng đầu Ban Chấp hành TW với tên tuổi Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông được coi là Tổng Bí thư tiên phong của Đảng .Sau khi Tổng Bí thư Trần Phú bị bắt và mất trong nhà thương Chợ Quán ngày 6 tháng 9 năm 1931, chức vụ Tổng Bí thư bị khuyết do Trung ương Đảng bị truy bắt kinh hoàng, gần như là tê liệt. Trước tình hình đó, dưới sự chỉ huy của Quốc tế Cộng sản, tháng 3 năm 1934, tại Ma Cao, Ban Chỉ huy hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương được xây dựng, do Lê Hồng Phong làm Bí thư. Do tình hình Ban Chấp hành Trung ương trong nước gần như bị tê liệt, nên Ban Chỉ huy hải ngoại kiêm Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Chức vụ Bí thư Ban Chỉ huy hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương bấy giờ giữ vai trò như Tổng Bí thư. Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ I ( 27-31 / 3/1935 ), Hà Huy Tập được bầu làm Bí thư Ban Chỉ huy hải ngoại thay thế sửa chữa Lê Hồng Phong đã được Đại hội Đảng bầu là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Mãi đến Tháng 7 năm 1936, Bí thư Ban Chỉ huy hải ngoại Hà Huy Tập về nước và giữ chức Tổng Bí thư, trở lại thành chức vụ chỉ huy cao nhất .Cương vị chỉ huy cao nhất của Tổng Bí thư được duy trì cho đến Đại hội đại biểu toàn nước lần thứ II, từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951. Tại đại hội này, xác lập chức vụ danh dự là quản trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, gọi tắt là quản trị Đảng, được xem là cao hơn cương vị Tổng Bí thư. Tuy đây chỉ là chức vụ danh dự, nhưng do uy tín lớn của quản trị Đảng Hồ Chí Minh, nên hầu hết đây là chức vụ thực quyền, nhất là sau Hội nghị Trung ương về yếu tố sửa sai cải cách ruộng đất tháng 10 năm 1956, Tổng Bí thư Trường Chinh từ chức, quản trị Đảng Hồ Chí Minh được coi như kiêm giữ luôn chức vụ Tổng Bí thư .Tại Đại hội đại biểu toàn nước lần thứ III tháng 9 năm 1960, tuy không bầu ra chức vụ Tổng bí thư, nhưng chức vụ Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam được xây dựng, do Lê Duẩn nắm giữ. Chức vụ này mô phỏng theo Liên Xô, nhưng vẫn duy trì chức vụ quản trị Đảng theo kiểu Trung Quốc. Sau khi quản trị Hồ Chí Minh qua đời năm 1969 thì chức vụ quản trị Đảng cũng bị bãi bỏ .Chức vụ Bí thư thứ nhất trở thành chức vụ đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương cho đến Đại hội Đại biểu toàn nước lần thứ IV tháng 12 năm 1976. Tại đại hội này, chức vụ Bí thư thứ nhất được bãi bỏ và chức vụ đứng đầu Ban Chấp hành TW trở thành Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, vẫn do Lê Duẩn nắm giữ. Từ đó, chức vụ này không thay đổi vai trò và tên tuổi cho đến tận thời nay .Tổng Bí thư đương nhiệm là ông Nguyễn Phú Trọng .

Đảng viên

Tính đến năm 2014, toàn Đảng Cộng sản Việt Nam có 4.480.707 đảng viên, sinh hoạt ở 262.894 chi bộ thuộc 56.548 tổ chức cơ sở đảng, thuộc 67 đảng bộ trực thuộc Trung ương. Trong đó, số đảng viên sinh hoạt ở xã là 1.888.352 (42,1%); sinh hoạt ở phường, thị trấn là 853.357 (19,1%); sinh hoạt tại các doanh nghiệp nhà nước là 266.541 (5,9%); tại các doanh nghiệp cổ phần vốn nhà nước là 113.568 (2,53%); tại các doanh nghiệp tư nhân là 45.824 (1,02%); tại các tổ chức đảng có vốn đầu tư nước ngoài là 9.470 (0,21%), tại các đơn vị sự nghiệp là 289.179 (6,45%), tại các cơ quan hành chính là 422.900 (9,38%), trong quân đội, công an là 550.898 (12,3%), trong các tổ chức đảng ngoài nước là 10.000 (0,23%).[37] Số lượng Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam tính đến năm 2019 là khoảng hơn 5,2 triệu đảng viên.[38] Hiện nay, việc phát triển đảng viên đang gặp nhiều khó khăn vì nhiều bạn trẻ ngại vào Đảng khiến tình trạng già hóa hiện rõ trong đội ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.[39]

Báo Dân trí cho rằng một thời hạn dài, thực trạng suy thoái và khủng hoảng về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, ” tự diễn biến “, ” tự chuyển hoá ” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên xảy ra nghiêm trọng làm giảm sút vai trò chỉ huy của Đảng, suy giảm niềm tin trong nhân dân dẫn đến thực trạng thiếu nguồn tăng trưởng đảng viên như lúc bấy giờ. Chính vì thế Đảng Cộng sản Việt Nam phải tự thay đổi, tạo sức hút mới, củng cố niềm tin trong những những tầng lớp nhân dân. [ 40 ]

Xem thêm

Tham khảo

Thư mục

Liên kết ngoài

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *